Sáng kiến kinh nghiệm Rèn luyện kỹ năng đọc hiểu, đọc diễn cảm cho học sinh Lớp 2
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Rèn luyện kỹ năng đọc hiểu, đọc diễn cảm cho học sinh Lớp 2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Rèn luyện kỹ năng đọc hiểu, đọc diễn cảm cho học sinh Lớp 2

MỤC LỤC Nội dung Trang Phần I: Đặt vấn đề 1 Phần II: Giải quyết vấn đề 3 1. Thực trạng cuả việc dạy phân môn tập làm văn ở trường Tiểu học 3 2. Các biện pháp tiến hành để dạy tốt kiểu văn tả người 3 2.1. Phân môn Tập đọc trong sách giáo khoa Tiếng việt 2 3 2.2. Một số nhận xét về sách giáo khoa lớp 2 – Phần Tập đọc 4 3. Các biện pháp tiến hành để nâng cao chất lượng giờ Tập đọc cho 5 học sinh 3.1. Về phía giáo viên 5 3.2. Về phía học sinh 6 4. Hiệu quả đạt được của sáng kiến 8 4.1. Đầu năm 2017 - 2018 8 4.2. Cuối học kì I năm học 2017 - 2018 9 4.3. Giữa học kì II năm học 2017 – 2018 9 4.4. Cuối năm học 2017 - 2018 9 Phần III: Kết luận 10 1. Kết luận 10 2.Kiến nghị 10 1 | 12 yêu Tiếng Việt bằng cách nêu bật sức mạnh biểu đạt của Tiếng Việt, sự giàu đẹp của âm thanh, sự phong phú của ngữ đoạn trong việc biểu đạt nội dung. Thế nhưng hiện nay ngữ điệu của học sinh chưa được chú ý đúng mức. Đó chính là lý do khiến cho trong nhiều trường hợp học sinh không hiểu đúng văn bản một cách đầy đủ. Do những thực tế trên, hơn nữa hiểu được tầm quan trọng của việc dạy tập đọc, tôi luôn chú trọng ở trong tất cả các giờ tập đọc, dạy như thế nào để có kết quả tốt. Đó là điều tôi băn khoăn suy nghĩ. Vì vậy tôi chọn viết kinh nghiệm: “Rèn luyện kỹ năng đọc hiểu, đọc diễn cảm cho học sinh lớp 2”. 3 | 12 Sách bao gồm 15 đơn vị học, mỗi đơn vị gắn với một chủ điểm, học trong 2 tuần ( riêng chủ điểm nhân dân học 3 tuần ). - Tập 1:sách tập trung vào mảng “Học sinh - Nhà trường - Gia đình” gồm 8 đơn vị học với các chủ điểm: là học sinh, bạn bè, trường học, thầy cô, ông bà, cha mẹ, anh em, bạn trong nhà. - Tập 2: sách tập trung vào mảng: “Thiên nhiên - đất nước”, gồm 7 đơn vị học, với các chủ điểm: Bốn mùa, chim chóc, muông thú, sông biển, cây cối, Bác Hồ, nhân dân.Phân môn tập đọc: Rèn cho học sinh các kỹ năng đọc ( đọc thành tiếng, đọc thầm, đọc hiểu, đọc diễn cảm, nghe và nói. Bên cạnh đó, thông qua hệ thống bài đọc theo chủ điểm và những câu hỏi, những bài tập khai thác nội dung bài đọc, phân môn tập đọc cung cấp cho học sinh những hiểu biết về thiên nhiên, xã hội và con người, cung cấp vốn từ, vốn diễn đạt, những hiểu biết về tác phẩm văn học và góp phần rèn luyện nhân cách cho học sinh. * Số bài, thời lượng học: Trung bình 1 tuần học sinh được học 3 bài tập đọc, trong đó có một bài được học trong 2 tiết, 1 bài còn lại học 1 tiết. * Các loại bài tập đọc: - Có 60 bài tập đọc văn bản, văn học, gồm 45 bài văn xuôi và 15 bài thơ, trong đó có 1 số văn bản văn học nước ngoài. - Các văn bản khác có 33 bài bao gồm văn bản khoa học, báo chí, hành chính ( tự thuật, thời khóa biểu, thời gian biểu, mục lục sách). 2.2. Một số nhận xét về sách giáo khoa lớp 2 - phần tập đọc. * Ưu điểm: - Chọn nhiều bài đọc mang tính chuyện để tăng sự hấp dẫn, làm cho học sinh có hứng thú học. Đưa truyện vui, truyện ngụ ngôn vào vừa để giải trí, vừa có tác dụng rèn luyện tư duy và phong cách sống vui tươi, lạc quan cho các em. - Đưa vào dạy các văn bản thông thường, các nghi thức lời nói cần thiết nhằm cung cấp cho các em một số kiến thức và kỹ năng cần thiết trong đời sống, bước đầu xác lập mối liên hệ giữa học với hành, giữa nhà trường và xã hội. Giúp các em biết khai lý lịch đơn giản, lập danh sách học sinh trong tổ, xem thời khóa biểu, tra mục lục sách, viết lời nhắn tin, viết bưu thiếp, nhận và gọi điện thoại... * Nhược điểm: Trong một số bài có những từ khó mang tính trừu tượng, giáo viên khó tìm được dụng cụ trực quan giáo viên phải giảng bằng lời như học sinh vẫn khó nắm bắt. Ví dụ: Cà cuống, niềng niềng, cá sộp, xập xành, muỗm ( bài: Quà của bố - tuần 13 ) hoặc bông cúc màu xanh da trời ( bài: Bông hoa niềm vui - tuần 13 ) 5 | 12 thiết kế sao cho dẫn dắt học sinh phát hiện ra những tín hiệu nổi bật về nội dung, nghệ thuật và cả tính giáo dục thẩm mỹ của bài đọc. - Nắm chắc trọng tâm cơ bản để giúp trẻ hình thành kỹ năng đọc, hiểu rõ năng lực từng em, phân loại, lập được danh sách học sinh có năng lực,học sinh hoàn thành nội dung môn học và học sinh chưa hoàn thành, còn khó khăn trong học tập để có kế hoạch giảng dạy tập đọc cụ thể cho các đối tượng. - Quán triệt việc luyện đọc hiểu ở trong các bộ môn. - Động viên khen thưởng khi thấy trẻ có tiến bộ. - Bản thân người giáo viên luôn rèn luyện kỹ năng đọc, phải có giọng đọc tốt để đọc mẫu, giọng đọc của giáo viên chính là công cụ trực quan thông qua việc đọc mẫu của mình. Nếu giáo viên không có giọng đọc tốt, sẽ ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của giờ dạy. Chuẩn bị đồ dùng trực quan cho mỗi bài dạy:Để giúp học sinh hiểu nhanh và nhớ lâu, mỗi bài tập đọc cần phải có các đồ dùng trực quan, các đồ dùng có thể là tranh ảnh, vật thật, vật làm mô phỏng... minh họa cho nội dung bài hay những từ cần giải thích. Ví dụ: Bài “Bưu thiếp” (tuần 10 ) giáo viên dùng một số loại bưu thiếp khác nhau, bài “Thời gian biểu” ( tuần 16 ) có mẫu thời gian biểu, bài “Cây xoài của ông em” ( tuần 11 ) dùng quả xoài thật hoặc tranh ảnh lịch có hình quả xoài 3.2 Về phía học sinh: Phải chuẩn bị xem trước bài tập đọc . - Đọc kỹ bài - Tập trả lời trước các câu hỏi cuối mỗi bài. Cụ thể khi dạy môn tập đọc rồi chú ý đến đọc mẫu (của giáo viên) yêu cầu về kỹ năng đọc (của học sinh). Luyện đọc là trọng tâm của tiết học, là nhiệm vụ chính của phân môn tập đọc. Yêu cầu trong một đoạn văn, đoạn thơ ngắn, biết ngắt nghỉ hơi hợp lý, dừng hơi ở dấu câu, biết thay đổi giọng phù hợp với bài thơ hoặc bài văn xuôi để tiến tới đọc diễn cảm. Trong giờ học, tôi hướng dẫn các em tự tìm ra cách đọc, luyện cho trẻ nắm được kỹ năng và rèn luyện cho trẻ nâng lên thành kỹ xảo. Về việc tập cho trẻ tự tìm hiểu bài, cảm thụ được cái hay, cái đẹp của bài văn, bài thơ, trên lớp tôi phải nghe thật tinh, thật kỹ để tìm ra cách rèn luyện thích hợp với từng em, rồi từ đó khuyến khích học sinh trong lớp nhận xét, trao đổi về cái “được” và “chưa được” của bạn mình, nhằm giúp học sinh khác biết rút kinh nghiệm để đọc tốt hơn. Ví dụ: Khi dạy bài tập đọc “Sông Hương” (tuần 26) giáo viên giúp học sinh hiểu nghĩa của các sắc độ xanh thẳm, xanh biếc, xanh non ( qua bức tranh sông Hương ).Rồi từ đó dẫn dắt cho học sinh thấy khi đọc các từ ngữ gợi tả màu sắc này thì phải đọc như thế nào ( đọc nhấn giọng vào những từ ngữ gợi tả mầu sắc “xanh thẳm, xanh biếc, xanh non” ). 7 | 12 nghỉ, tôi dạy các em tự ngắt hơi hợp lý để lấy hơi đọc tiếp. Ví dụ hướng dẫn học sinh ngắt câu theo những dấu ngắt: Bài “Mẹ” ( tuần 12 ) Lặng rồi/ cả tiếng con ve Con ve cũng mệt/ vì hè nắng oi. Bài “Quà của bố” ( tuần 10 ) Mở thúng câu ra/ là một thế giới dưới nước: /cà cuống,/ niềng niễng đực,/ niềng niễng cái,/ bò nhộn nhạo./ Lớp tôi dạy có em Cương khi đọc thường ngắt nghỉ tùy tiện, đọc nhát gừng, được tôi thường xuyên gọi đọc, trả lời và khuyến khích em khi có tiến bộ, hiện nay em là một trong những học sinh đọc tốt của lớp. Khi rèn đọc cho học sinh, giáo viên có thể rèn đọc theo đoạn, đọc toàn bài, sau đó đọc phân vai (tùy nội dung từng bài) giữa các đoạn, giáo viên cần phải có những lời chuyển ý để bài đọc được nhịp nhàng. VD: Bài “Có công mài sắt có ngày nên kim” (tuần 1) bài này cho 3 học sinh đọc phân vai: 1 - Đóng người dẫn chuyện, 1- Đóng cậu bé, 1 - Đóng bà cụ. Bài “Bạn của nai nhỏ” (tuần 3) bài này cũng cho 3 học sinh đọc phân vai: 1- Đóng người dẫn chuyện, 1 - Đóng vai cha Nai, 1- Đóng vai Nai nhỏ. Trước khi cho học sinh đọc phân vai, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm và phát hiện giọng của từng vai theo nội dung từng bài. Khi tìm hiểu nội dung bài, giáo viên cho học sinh tìm hiểu nhân vật có tên, có đặc điểm, có số lượng các nhân vật, có tình tiết của câu chuyện.Tìm hiểu nghĩa đen, nghĩa bóng của các câu thơ, câu văn. Tìm hiểu ý nghĩa của truyện, ý nghĩa của bài thơ, bài văn ( đưa vào hệ thống câu hỏi của bài để làm việc ) ngoài ra phải thêm các câu hỏi phụ bổ sung để dẫn dắt học sinh. Trên cơ sở học sinh đã hiểu được nội dung bài, phát âm đúng, biết ngắt nghỉ theo dấu, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm được giọng đọc phù hợp với mọt bài văn cụ thể, động viên học sinh thể hiện tình cảm của mình bằng ánh mắt, cử chỉ, nét mặt, nhằm giúp cho người nghe cảm nhận được nội dung bài. VD: Bài “ Sự tích cây vú sữa” (tuần 12) đọc với giọng chậm rãi, nhẹ nhàng, giàu cảm xúc, nhấn giọng ở những từ ngữ gợi tả, gợi cảm. 4. Hiệu quả của sáng kiến Qua qúa trình ứng dụng sáng kiến trong thực tế công tác giảng dạy tại trường Tiểu học Thạch Bàn A, áp dụng ở 2 lớp 2B và 2C, kết quả như sau: 4.1Đầu năm học 2017 - 2018 - Học sinh đọc bài còn thụ động. - Học sinh chưa yêu thích giờ học Tập đọc - Học thuộc lòng. - Có 3/42 học sinh đạt hoàn thành tốt về đọc (được đánh giá đạt mức: đọc diễn cảm ). 9 | 12 PHẦN III: KẾT LUẬN 1. Kết luận Qua một thời gian áp dụng, tôi thấy học sinh lớp có những chuyển biến rõ rệt về đọc diễn cảm và hiểu nội dung bài tập đọc. Việc đọc diễn cảm đã thành thói quen của học sinh. Các em luôn tự giác trong học tập. Học sinh yêu thích giờ học Tập đọc và học thuộc lòng , trong giờ học biết lắng nghe bạn đọc để học hỏi cách đọc đúng, đọc hay cho mình, biết nhận xét, phê phán cách đọc sai và tự sửa sai. Như vậy, học sinh đã chủ động tìm hiểu bài và chủ động tìm ra cách đọc diễn cảm phù hợp với nội dung của từng bài học. Phong trào “thi đua đọc tập tốt” của lớp luôn được Ban thi đua đánh giá cao. Bản thân giáo viên khi dạy cũng thấy hứng thú, say sưa nâng cao chất lượng giờ dạy tốt hơn. Nói tóm lại nếu áp dụng đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp tôi đưa ra trong sáng kiến này thì vấn đề dạy môn tập đọc trong nhà trường Tiểu học không còn là khó khăn, trăn trở đối với mỗi giáo viên khi lên lớp. Sau thời gian nghiên cứu dựa trên các tài liệu tham khảo và ứng dụng trong công tác giảng dạy, tôi đã hoàn thành đưa ra sáng kiến. Do tôi còn nhiều hạn chế chủ quan và khách quan, những điều tôi trình bày trên đây có thể còn chưa thấu đáo. Tôi sẽ cố gắng tìm hiểu sâu hơn nữa về nội dung, chương trình và phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học để đáp ứng những yêu cầu của xã hội đối với giáo viên Tiểu học trong giai đoạn hiện nay. 2. Kiến nghị - Kèm theo sách giáo khoa, tài liệu dùng cho giáo viên giảng dạy cần biên soạn chi tiết, hướng dẫn chuẩn xác, cụ thể hơn nữa để giáo viên giảng đúng, hay và dạy được cho các đối tượng học sinh. Cần tăng cường đồ dùng, thiết bị để phục giảng dạy môn Tiếng Việt đầy đủ và tốt hơn nữa. Trong quá trình ứng dụng sáng kiến chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong có sự góp ý của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp Tôi xin chân thành cảm ơn ! Thạch Bàn, ngày 30 tháng 4 năm 2019 Người thực hiện Nguyễn Thị Hường 11 | 12
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_ren_luyen_ky_nang_doc_hieu_doc_dien_ca.doc