Sáng kiến kinh nghiệm Một số phương pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh ở phân môn Tập đọc ở Lớp 2
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số phương pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh ở phân môn Tập đọc ở Lớp 2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số phương pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh ở phân môn Tập đọc ở Lớp 2

ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN TRƯỜNG TIÊU HỌC THANH XUÂN TRUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC CHO HỌC SINH Ở PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 2 Lĩnh vực : Tiếng Việt Cấp học : Tiểu học Tên Tác giả : Mai Thị Thu Ngọc Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thanh Xuân Trung Chức vụ : Giáo viên cơ bản NĂM HỌC 2019 -2020 _________• _______________ khoảng 50 tiếng/ 1phút. * Đọc thầm và hiểu nội dung: - Biết đọc không thành tiếng, không mấp máy môi. - Hiểu được nghĩa của các từ ngữ trong văn cảnh (bài đọc); nắm được nội dung của câu, đoạn hoặc bài đã đọc. * Nghe: - Nghe và nắm được cách đọc đúng các từ ngữ, câu, đoạn, bài. - Nghe - hiểu các câu hỏi và yêu cầu của thầy cô. - Nghe - hiểu và có khả năng nhận xét ý kiến của các bạn. * Nói: - Biết trao đổi với các bạn trong nhóm học tập về bài đọc. - Biết cách trả lời các câu hỏi về bài đọc. 2.2. Trau dồi vốn tiếng Việt, vốn văn học, phát triển tư duy, mở rộng sự hiểu biết của học sinh về cuộc sống: - Làm giàu và tích cực hóa vốn từ, vốn diễn đạt. - Bồi dưỡng vốn văn học ban đầu, mở rộng hiểu biết về cuộc sống, hình thành một số kĩ năng phục vụ cho đời sống và việc học tập của bản thân. - Phát triển một số thao tác tư duy cơ bản (phân tích, tổng hợp, phán đoán...). 3. NỘI DUNG DẠY HỌC a. Số lượng, thời lượng học - Trung bình, một tuần, học sinh được học 2 bài tập đọc, trong đó có một bài học trong 2 tiết, một bài còn lại được học trong một tiết. b. Các loại bài tập đọc - Có 64 bài tập đọc bao gồm văn bản văn học,văn bản khoa học, báo chí, hành chính (tự thuật, thời khóa biểu, thờ gian biểu, mục lục sách...) thông qua những văn bản này cung cấp cho các em một số kĩ năng cần thiết trong đời sống, bước đầu xác lập mối quan hệ giữa học với hành, giữa nhà trường và xã hội. - Có 32 bài tập đọc được dạy trong 2 tiết và 32 bài được dạy trong 1 tiết. Những bài dạy trong 2 tiết đều là truyện kể, đóng vai trò chình trong mỗi chủ điểm. Học sinh có 1 tiết để kể lại nội dung truyện hoặc tập phân vai, dựng lại câu chuyện theo kiểu hoạt cảnh (tiết Kể chuyện), và viết chính tả một đoạn trích hay tốm tắt nội dung truyện (tiết Chính tả). * Cấu trúc của sách giáo khoa Lớp 2 TẬP 1: Tập trung vào các mảng: Học sinh - Nhà trường - Gia đình với các chủ điểm: + Em là học sinh. - Qua việc nghiên cứu đề tài này, việc tìm hiểu các tài liệu, chứng cứ liên quan giúp tôi có thêm cơ hội bổ sung cho mình những kiến thức trong môn Tiếng Việt để từ đó nâng cao trình độ chuyên môn cho bản thân trong quá trình dạy học. IV. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU a) Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại lớp 2A3 - Trường Tiểu học Thanh Xuân Trung b) Phạm vi nghiên cứu: Ngay từ đầu nhận lớp tôi đã làm quen, phân loại trình độ từng mức đối tượng học sinh, kết hợp với giáo viên lớp 1 để đưa ra phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh. V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Để thực hiện được sáng kiến kinh nghiệm này, tôi đã vận dụng các phương pháp sau đây để nghiên cứu: 1. Phương pháp nghiên cứu, các tài liệu tham khảo và sách giáo khoa - Đọc các loại sách và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến môn Tiếng Việt. - Tìm hiểu thêm trên mạng các phương pháp dạy học mới, những cuốn sách tìm hiểu về đặc điểm tâm sinh lí của trẻ. - Tìm hiểu các tài liệu về cách tổ chức trò chơi, về lí luận giảng dạy phân môn Tập đọc. 2. Phương pháp quan sát, học hỏi - Quan sát, khảo sát về tình hình “dạy và học” phân môn Tập đọc trong trường tiểu học. - Thăm lớp, dự các tiết chuyên đề về phân môn Tập đọc trong trường cũng như các chuyên đề thành phố được bồi dưỡng hàng năm. Mạnh dạn trao đổi những suy nghĩ của cá nhân mình với các giáo viên khác để từ đó rút ra cho mình những bài học sau mỗi bài dạy. 3. Phương pháp cá thể hóa - Đề ra mục tiêu cụ thể cho từng đối tượng trong lớp khi soạn và dạy phân môn Tập đọc. - Trong các tiết học quan tâm sát sao đến đối tượng học sinh yếu kém để kịp thời giúp đỡ, động viên các em tiến bộ. 4. Phương pháp đánh giá kết quả - Kịp thời đánh giá kết quả học sinh thu được trong các tiết Tập đọc nhất là sự tiến bộ của học sinh yếu kém để tìm ra phương pháp mới giúp học sinh tiến bộ để đánh giá kết quả thu được của đề tài nghiên cứu. Đọc đúng về các thanh: về thanh có các lỗi phát âm, hay lẫn thanh hỏi thành thanh nặng. Ví dụ: “hỏi thăm, thoang thoảng ...” đọc thành “họi thăm”, “thoang thoạng”. Một số địa phương lẫn thanh hỏi và thanh ngã như tiếng Thanh Hóa. Không phân biệt được thanh (~) và thanh (.) như tiếng Nghệ An. Không phân biệt được thanh (~) và thanh (?) như tiếng Quảng Bình, Quảng Trị. Tiếng Nam Bộ thì nhập hai thanh này làm một. Đọc đúng bao gồm đọc đúng tiết tấu, ngắt nghỉ hơi, ngữ điệu câu... khi đọc không được tách một từ ra làm hai. Ví dụ: không ngắt hơi: - Ca lô đội lệch - Mồm huýt/ sáo vang. - Với em bé gái Phải “ người/ lớn “ cơ. Ông già bẻ gãy từng chiếc một/ cách dễ dàng. Không tách từ chỉ từ loại với danh từ mà nó đi kèm, ví dụ không đọc: - Như con/ chim chích. Nhảy trên đường vàng. - Em cầm tờ/ lịch cũ Ngày hôm qua đâu rồi. Không tách giới từ với danh từ đi sau nó, ví dụ không đọc: Như con chim Nhảy trên/ đường vàng. Không tách động từ- hệ từ “ là” với danh từ đi sau nó, ví dụ không đọc: - Mẹ là/ ngọn gió của con suốt đời. Việc dựa vào nghĩa và quan hệ cú phát sẽ giúp chúng ta xác định cách ngắt nghỉ đúng của các câu sau: - Yêu thương/ em ngắm mãi Những điểm mười cô cho. (Không ngắt “yêu thương em/ ngắm mãi”). - Trường mới/ xây trên nề ngôi trường lợp lá cũ. (Không ngắt “Trường mới xây/ trên nền ngôi trường lợp lá cũ”). Việc ngắt nghỉ hơi phải phù hợp với các dấu câu: nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn ở dấu chấm, đọc đúng các ngữ điệu câu: lên giọng ở cuối câu hỏi, hạ giọng ở cuối câu kể, thay đổi giọng cho phù hợp với tình cảm cần diễn đạt trong câu. Với câu cầu khiến cần nhấn giọng phù hợp để thấy rõ các nội dung cầu khiến khác nhau. Ngoài ra còn phải đọc hạ giọng khi đọc bộ phận giải thích của câu. c) Biện pháp luyện đọc đúng: chủ ngữ điệu, chỗ ngừng giọng, cường độ giọng v.v... để biểu đạt đúng ý nghĩ và tình cảm mà tác giả đã gửi gắm trong bài đọc, đồng thời biểu hiện sự thông hiểu, cảm thụ của người đọc với tác phẩm. Đọc diễn cảm thể hiện năng lực đọc ở trình độ cao và chỉ thực hiện được trên cơ sở đọc đúng và đọc lưu loát. Đọc diễn cảm chỉ có thể có được trên cơ sở hiểu thấu đáo bài đọc. Đọc diễn cảm yêu cầu đọc đúng giọng vui, buồn, giận dữ, trang nghiêm... phù hợp từng ý nghĩa cơ bản bài đọc, phù hợp kiểu câu, thể loại, đọc có cảm xúc cao, biết nhấn giọng ở từ ngữ biểu cảm, gợi cảm, phân biệt lời tác giả, nhân vật. Ở tiểu học, khi nói nói đến đọc diễn cảm, người ta thường nói về một số kĩ thuật như ngắt giọng biểu cảm, sử dụng tốc độ và ngữ điệu. Ngắt giọng biểu cảm đối lập với ngắt giọng lôgic. Ngắt giọng lôgic là chỗ dừng để tach các nhóm từ trong câu. Ngắt giọng lô gic hoàn toàn phụ thuộc vào ý nghĩa và quan hệ giữa các từ... Ví dụ: Do quan hệ chủ - vị của tiếng “cờ” và tiếng “đỏ” mà câu sau được ngắt: “ Cờ bay/ đỏ những mái nhà”. Không ngắt: “Cờ/ bay đỏ những mái nhà”. Vì ngắt giọng như cách đó là do đã hiểu giữa tiếng “cờ” và “bay” có quan hệ chủ vị. Các dấu ngắt câu cũng biểu hiện của cách ngắt giọng lôgic. Ngắt giọng biểu cảm là phương tiện tác động đến người nghe. Ngắt giọng lôgic thiên về trí tuệ, ngắt giọng biểu cảm thiên về cảm xúc. Ngắt giọng biểu cảm là những chỗ lắng, sự im lặng có tác dụng truyền cảm góp phần làm cho học sinh cảm thụ nội dung bài đọc cao. Tốc độ: tốc độ đọc ảnh hưởng đến sự biểu cảm, đặc biệt là những chỗ có thay đổi tốc độ gây sự chú ý, có giá trị biểu cảm tốt. Ví dụ: Khi đọc bài thơ “Mẹ”, nếu câu cuối: “Mẹ là ngọn gió của con suốt đời” đọc chậm lại, nhịp dãn ra thì câu thơ có nhiều âm lượng nhất này của bài sẽ đọng lại trong lòng người đọc với một tốc độ bình thường như những câu khác . - Còn với bài “Mùa xuân đến”, những câu “Hoa bưởi nồng nàn. Hoa nhãn ngọt. Hoa cau thoảng qua” Nhịp đọc nhanh nhưng câu cuối “Nhưng trong trí thơ ngây của chú còn mãi mãi sáng ngời hình ảnh một cánh hoa mận trắng, biết nở cuối đông để báo trước mùa xuân tới”. Đọc chậm lại, nhịp dãn ra để cho câu văn ngân lên mới thể hiện đúng cảm xúc. Ngữ điệu: Theo nghĩa hẹp, ngữ điệu là sự lên cao hay hạ thấp giọng. Mỗi kiểu câu chia theo mục đích nói đều có ngữ điệu riêng. Như sự hạ giọng cuối lên lớp trên thì kĩ năng đọc thầm càng được củng cố. Dạy đọc thầm cần làm những việc sau: 1. Chuẩn bị cho việc đọc thầm: Cũng như khi ngồi đọc (vì ít khi đứng đọc) thành tiếng, tư thế ngồi đọc thầm phải ngay ngắn, khoảng cách giữa mắt và sách 30 - 35 cm. 2. Tổ chức quá trình đọc thầm Kĩ năng đọc thầm phải được chuyển dần từ ngoài vào trong, từ đọc to đến đọc nhỏ; đọc mấp máy môi (không thành tiếng) đến đọc hoàn toàn bằng mắt, không mấp máy môi (đọc thầm), giai đoạn cuối gồm hai bước: di chuyển mắt theo que trỏ hoặc ngón tay rồi đến chỉ có mắt di chuyển. Giáo viên phải tổ chức quá trình chuyển từ ngoài vào trong này. Cần kiểm soát quá trình đọc thầm của học sinh bằng cách qui định thời gian đọc thầm cho từng đoạn và bài. Học sinh đọc xong thì giơ tay báo cho giáo viên biết, từ đó giáo viên nắm được và điều chỉnh tốc độ đọc thầm. 3. Đọc hiểu a) Hiệu quả của đọc thầm được đo bằng khả năng thông hiểu nội dung văn bản đọc. Do đó, dạy đọc thầm chính là dạy học có ý thức, đọc hiểu: kết quả đọc thầm phải giúp học sinh hiểu nghĩa của từ, cụm từ, đoạn, bài tức là toàn bộ những gì được đọc. Giáo viên cần có biện pháp giúp học sinh hiểu bài đọc. Bắt đầu từ việc hiểu nghĩa của từ. Việc chọn từ nào để giải nghĩa phụ thuộc nhiều vào đối tượng học sinh (tùy từng địa phương). Giáo viên phải có hiểu biết về từng địa phương để chọn từ ngữ giải nghĩa cho phù hợp đồng thời phải chuẩn bị sẵn sàng giải đáp cho học sinh về bất cứ từ nào trong bài mà các em yêu cầu. Như tâm lí - ngôn ngữ học đã chỉ ra để hiểu và nhớ những gì được đọc không phải xem tất cả các chữ đều quan trọng như nhau mà có thể và cần sàng lọc để giữ lại những từ “chìa khóa”, những nhóm từ mang ý nghĩa cơ bản. Đó là những từ giúp ta hiểu được nội dung của bài. Trong những bài khóa văn chương, đó là những từ dùng “đắt”, tạo nên giá trị của bài. Ví dụ: Bài “Mùa xuân đến” trong câu “Bầu trời ngày thêm xanh, nắng vàng ngày càng rực rỡ”, không nhấn mạnh vào các từ “ngày, thêm, càng” sẽ không giúp học sinh thấy được sự chuyển biến của đất trời, không làm rõ được “mùa xuân đến” chứ không phải “mùa xuân”. Cần có biện pháp giúp học sinh phát hiện ra những từ có tín hiệu nghệ thuật. Đó là những từ giàu màu sắc biểu cảm như các từ láy, những từ đa nghĩa, những từ mang nghĩa bóng. Tiếp đó, cần hướng học sinh phát hiện những câu quan trọng trong bài, những câu nêu ý chung của bài. Với những văn bản văn chương, học sinh cần thống câu hỏi: + Bé Hà có sáng kiến gì? + Hai bố con chọn ngày nào làm ngày lễ ông bà? Vì sao? + Bé Hà còn băn khoăn chuyện gì? + Ai đã giúp đỡ bé? + Hà tặng ông bà món quà gì? + Bé Hà trong câu chuyện là một cô bé như thế nào? + Vì sao Hà lại nghĩ ra sáng kiến tổ chức “ngày ông bà”? Trong quá trình dạy, tôi áp dụng hai biện pháp trên để thay đổi hình thức tìm hiểu nội bài để học sinh có thể nắm bài nhanh, vững. III.TỔ CHỨC DẠY HỌC THUỘC LÒNG 1) Học thuộc lòng là quá trình đọc văn bản, ghi nhớ trong não tới từng câu ,từng chữ, rồi tái hiện lại dưới dạng âm thanh, tức tái hiện lại bằng cách đọc thành tiếng hay không thành tiếng. Việc dạy học sinh học thuộc lòng văn bản để giữ lại những tri thức rất cần thiết. Những tri thức được lưu giữ lại giúp học sinh tích lũy văn chương, bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học. Đồng thời học thuộc lòng còn rèn trí nhớ cho học sinh, dạy học sinh ghi nhớ có phương pháp. Học thuộc lòng chỉ được thực hiện trên cơ sở đã hiểu bài đọc. Vì vậy không nên bắt học sinh học thuộc lòng cái gì khác ngoài những cái đã hiểu rõ ràng. Cũng chính vì vậy mà học thuộc lòng không được xem là một phân môn mà chỉ như một yêu cầu, một bài tập đặc biệt của giờ tập đọc. Tuy vậy, không nên coi học thuộc lòng là kết quả tự nhiên của việc đọc tốt và thông hiểu văn bản, đó chỉ là những tiền đề, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để học thuộc lòng, cần phải có phương pháp riêng với những bài tập đa dạng để học sinh luyện trí nhớ, học thuộc lòng. 2) Qui trình dạy học thuộc lòng - Bước 1: Hướng dẫn học sinh tri giác toàn đoạn, bài sẽ học thuộc lòng (đã chép sẵn trên bảng). Giáo viên đọc mẫu, học sinh đọc như giờ tập đọc. - Bước 2: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung văn bản như giờ tập đọc. - Bước 3: Tiến hành học thuộc lòng bằng cách vừa cho đọc, vừa xóa dần các chữ. Trong câu phần phụ xóa trước, thành phần chính xóa sau; trong cụm từ yếu tố phụ xóa trước, yếu tố chính xóa sau. Cuối cùng chỉ để lại một tiếng đầu câu làm điểm tựa. - Bước 4: Kiểm tra, đánh giá kết quả học thuộc lòng của học sinh, kiểm tra học sinh có thuộc không, có hiểu điều mình đã thuộc không. IV. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ĐỂ TIẾT DẠY TẬP ĐỌC
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_phuong_phap_ren_ki_nang_doc_cho.docx
Sáng kiến kinh nghiệm Một số phương pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh ở phân môn Tập đọc ở Lớp 2.pdf