Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp phát triển năng lực đọc cho học sinh Lớp 2

doc 28 trang sangkienhay 28/11/2023 5022
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp phát triển năng lực đọc cho học sinh Lớp 2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp phát triển năng lực đọc cho học sinh Lớp 2

Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp phát triển năng lực đọc cho học sinh Lớp 2
 I. PHẦN MỞ ĐẦU
 1. Lý do chọn đề tài
 Đọc là một phần quan trọng trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học, nó 
là chìa khoá, là phương tiện để giúp học sinh Tiểu học tiếp xúc với kho tàng 
kiến thức vô tận của nhân loại. Những kinh nghiệm của đời sống, những thành 
tựu văn hoá, khoa học, tư tưởng tình cảm của các thế hệ đi trước và của cả 
những người đương thời hầu hết đã được ghi lại bằng chữ viết. Muốn tiếp thu 
được nền văn minh của nhân loại, để có cuộc sống phát triển trong xã hội hiện 
đại thì con người cần phải biết đọc. 
 Kỹ năng đọc thực sự cần thiết đối với mọi người, không chỉ riêng đối với 
học sinh cấp một nói riêng, mà còn đối với tất cả các cấp học khác. Học sinh 
muốn viết bất kì một văn bản nào trước hết phải có kỹ năng đọc thông, đọc đúng 
văn bản. Đọc có cơ sở hiểu đúng nội dung văn bản đó, trái lại một văn bản đọc 
sai , mắc nhiều lỗi làm ta hiểu sai nội dung văn bản đó. Đọc đúng còn giúp học 
tốt các môn học khác là cơ sở cho việc học tốt bộ môn Tiếng Việt.
 Chúng ta thấy rằng với mỗi người việc đọc là rất quan trọng và đối với 
một đứa trẻ thì việc đọc lại càng có ý nghĩa thực tế hơn.
 + Đọc sẽ tạo ra hứng thú và động cơ học tập, tạo điều kiện để học sinh có 
khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời.
 +Đọc giúp trẻ em chiếm lĩnh một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học 
tập. Đọc là công cụ giúp các em học tập tốt các môn học khác.
 + Đọc là một khả năng không thể thiếu được của con người thời đại văn 
minh
 Đọc một cách có ý thức cũng sẽ tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ 
cũng như tư duy của người đọc. Việc dạy đọc sẽ giúp học sinh hiểu biết hơn, bồi 
dưỡng ở các em lòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ một 
cách lôgic cũng như biết tư duy hình tượng. Như vậy, đọc có một ý nghĩa to lớn 
còn vì nó bao gồm các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển. 
 Cũng như nhiều giáo viên khác, tôi suy nghĩ rất nhiều về cách dạy đọc ở 
lớp 2. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để giúp các em đọc đúng tiếng, đọc liền tiếng 
 1/20 II. PHẦN NỘI DUNG
 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1 . Cơ sở lý luận
 Trong những năm gần đây, xu thế chung của thế giới là đổi mới phương 
pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học 
sinh trong quá trình dạy học. Người giáo viên phải nắm được tâm lý của các em 
và tìm ra phương pháp phù hợp để tư duy của cácem dần phát triển thành tổng 
thể khi chiếm lĩnh các kiến thức được học. Và trong môn Tiếng Việt giúp các 
em phát triển ngôn ngữ và tư duy, giáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm, thị hiếu 
thẩm mĩ cho học sinh. Trong đó môn Tiếng việt có tác dụng to lớn trong 
quá trình phát triển tư duy ngôn ngữ cho học sinh, rèn luyện cho học sinh các kĩ 
năng đọc (đọc thành tiếng, đọc thầm, đọc hiểu, đọc diễn cảm), nghe và nói. Bên 
cạnh đó, thông qua hệ thống bài đọc theo chủ điểm và những câu hỏi, những bài 
tập khai thác nội dung bài đọc, phần đọc cung cấp cho học sinh những hiểu biết 
tự nhiên, xã hội và con người, cung cấp vốn từ, vốn diễn đạt, những hiểu biết về 
tác phẩm văn học (như đề tài, cốt truyện, nhân vật...) và góp phần rèn luyện 
nhân cách cho học sinh. Tiếng việt ở Tiểu học được xây dựng phù hợp với yêu 
cầu phát triển lời nói của học sinh, giúp các.
 Em mở rộng thêm kiến thức trong quá trình học tập, lao động và giao tiếp 
ngày một tốt hơn, tiến bộ hơn, đạt kết quả cao hơn.
 Do đó, dạy Tập đọc có vị trí rất quan trọng, việc dạy đọc ở giai đoạn đầu 
giúp học sinh nắm được tiếng mẹ đẻ và sau là tạo điều kiện cho các em học tập 
và phát triển toàn diện, hình thành nhân cách tốt đẹp cho con người lao động 
trong mọi thời đại mới.
 Chính vì vậy việc vận dụng một số phương pháp và hoạt động trải 
nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy phần đọc ở lớp 2 là rất cần 
thiết. Đây chính là cơ sở, là nền tảng để học tốt các môn học khác nhằm thực 
hiện đúng mục tiêu mà Đảng ta đã đề ra nhằm đào tạo con người mới. 
 3/20 + Phát âm theo tiếng địa phương 
+ Chưa biết cách ngắt hơi, nghỉ hơi, ngắt nhịp thơ:
+ Đọc không đúng ngữ điệu
 CHƯƠNG 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Các thực trạng
1. 1.Thực trạng về tâm sinh lí lứa tuổi học sinh lớp 2
 Để sửa lỗi phát âm và rèn kỹ năng phát âm chuẩn trong dạy phần đọc cho 
học sinh lớp 2 ngoài việc nắm được các lỗi mà các em thường mắc dẫn đến việc 
phát âm sai, chưa chuẩn, nắm được bản chất hay nguyên nhân mắc lỗi phát âm 
chúng ta cần hiểu được đặc điểm tâm sinh lí các em học sinh. Việc sửa lỗi phát 
âm trong dạy học phần đọc cho học sinh lớp 2 phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố 
tâm lí của học sinh.
 Ở giai đoạn Tiểu học, do các cơ quan cảm giác chưa phát triển hoàn thiện 
nên bộ máy phát âm của các em chưa chuẩn, các em thường đọc lẫn l/n, r/d/gi, 
s/x...hoặc đọc các từ khó còn lệch lạc như khúc khuỷu, ngoằn ngoèo... Chính vì 
vậy khi dạy tập đọc cho học sinh lớp 2, giáo viên cần phải chú ý đến cách phát 
âm, chú ý sửa lỗi phát âm cho học sinh một cách có định hướng, toàn diện nhằm 
giúp các em sử dụng Tiếng Việt hiệu quả trong học tập cũng như trong giao tiếp.
 Qua thực tế dạy lớp 2, tôi nhận thấy học sinh yếu các môn là do đọc yếu, 
đọc sai, phát âm không đúng và đọc không mạch lạc dẫn đến không hiểu nội 
dung văn bản. Vì vậy việc tiếp thu nội dung, kiến thức mà văn bản đem lại 
không hiệu quả.
 Vậy để giúp học sinh sửa lỗi phát âm, rèn luyện kỹ năng phát âm chuẩn 
để học tốt phân môn này, giáo viên cần có sự quan tâm sát sao, có những định 
hướng tích cực trong việc sửa lỗi phát âm cho học sinh, nhưng cũng cần có sự 
am hiểu sâu sắc tâm sinh lí học sinh nhất là học sinh lớp 2.
1.2. Khái quát về tình hình học sinh
 Năm học 2021-2022 tôi được giao nhiệm vụ giảng dạy và chủ nhiệm lớp 
2 với tổng số 31 học sinh.Với môn Tiếng việt, sau vài tuần nhận lớp tôi thấy 
 5/20 1.3.4 Học sinh ngắt, nghỉ hơi khi đọc câu chưa hợp lí
 Một số học sinh chưa ngắt hơi sau những tiếng có dấu phây (,) hay chưa 
biết cách ngắt hơi khi đọc những câu văn dài.
Ví dụ: Trong bài “Cửa Tùng” - SGK Tiếng Việt lớp 2 tập 2 trang 109 học sinh 
đọc câu ngắt, nghỉ hơi sai như sau: “Thuyền chúng tôi/ đang xuôi dòng Bến Hải/ 
con sông in đậm dấu ấn/ lịch sử một thời chống Mĩ cứu nước.// Đôi bờ thôn 
xóm/ mướt màu xanh/ lũy tre làng và những rặng phi lao/ rì rào gió thổi.//”
1.3.5 Học sinh đọc vẹt, không hiểu văn bản
 Chúng ta đều biết đọc vẹt là cách nói ẩn dụ, ví cách đọc của học sinh với 
con vẹt - bắt chước nói nhại lại nhưng không hiểu gì.Trong lớp tôi có khá nhiều 
học sinh đọc như vậy.Học sinh đọc rất trôi chảy nhưng không hiểu là mình đọc 
gì, không nắm chắc nội dung bài, đọc một cách máy móc thụ động.
1.3.6 Học sinh đọc đúng văn bản mà chưa hay
 Một số em chưa biết nhấn giọng ở những từ ngữ gợi tả, gợi cảm.Ngoài ra 
học sinh còn chưa xác định đúng giọng đọc trong bài.
Bên cạnh đó còn nhiều học sinh đọc bài với tốc độ chưa phù hợp, có em đọc quá 
nhanh nhưng có em lại đọc quá chậm.
1.3.7 Số liệu điều tra trước khi thực hiện đề tài
 Tôi đã tiến hành khảo sát học sinh trong hai tuần đầu nhận lớp bằng cách 
cho các em đọc các bài tập đọc trong Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 và một số 
bài văn bài thơ hay trong các sách tham khảo như:
Bài 1: Hai bàn tay em Bài 3: Khi mẹ vắng nhà
Bài 2: Đơn xin vào Đội Bài 4: Cô giáo tí hon
Bảng thống kê số học sinh phát âm đúng, sai đối với từng lỗi cụ thể như 
sau:
a. Lỗi phát âm:
 Học sinh Học sinh
 Số học sinh 
 Mô tả tiếng, từ dễ lẫn phát âm đúng phát âm sai
 của lớp
 Số lượng % Số lượng %
 7/20 - Đa số học sinh đọc chưa lưu loát, còn đánh vần, chưa ý thức được thói quen 
 tập trung chú ý khi đọc thầm.
 - Học sinh chưa có thói quen chuẩn bị bài ở nhà trước khi đến lớp. Khả năng 
 ngôn ngữ của các em còn yếu, tư duy của các em chưa cao.Các em thường phát 
 âm lẫn các phụ âm đầu, vần, thanh.
 * Về phía phụ huynh
 - Phụ huynh chưa quan tâm đến việc đọc của con. Phụ huynh nghĩ rằng việc dạy 
 đọc cho con là việc của giáo viên. Phụ huynh chỉ quan tâm xem con có làm toán 
 có tốt không, làm văn đã hay chưa?
 2. CÁC BIỆN PHÁP 
 1.Biện pháp 1: Rèn đọc đúng cho học sinh
* Mục tiêu của biện pháp
 Chức năng của phần đọc trong môn Tiếng việt là luyện đọc nên rèn cho 
 học sinh đọc đúng, đọc trôi chảy là mục tiêu đầu tiên của tiết hoc. Vì vậy đây là 
 biện phá đầu tiên mà tôi áp dụng và áp ụng trong tất cả các giờ học.
 * Cách thực hiện biện pháp
 1.1. Rèn phát âm đúng từ chứa tiếng khó
 - Để rèn luyện cho học sinh phát âm chuẩn giáo viên phải hướng dẫn học sinh 
 phát hiện lỗi và sửa lỗi cho học sinh. Giáo viên cần nắm được cụ thể học sinh 
 nào hay phát âm sai và sai ở chỗ nào để kịp thời sửa chữa.
 - Rèn cho học sinh có ý thức nói và đọc thật đúng, chuẩn. Luôn luôn nhắc nhở 
 các em rèn đọc đúng không chỉ trong các tiết rèn đọc mà cả trong các giáo tiếp 
 hàng ngày.
 - Trong giờ Tiếng việt giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh kèm cặp nhau đọc, 
 đọc trong nhóm, giáo viên yêu cầu học sinh đọc tốt kèm cho học sinh đọc chưa 
 tốt. Nhắc nhở các em cùng bảo nhau có ý tức phát âm đúng trong mọi tình 
 huống. Tập cho học sinh quan sát lời nói của giáo viên, của bản thân mình để 
 đọc, nói cho đúng. Trong giờ tập đọc giáo viên gọi học sinh đọc khá, tốt đọc bài 
 9/20 * Cách thực hiện biện pháp
 Có rất nhiều cách để giáo viên giải nghĩa từ cho học sinh vừa dễ nhớ, vừa 
dễ hiểu và luyện đọc đúng sau khi đã hiểu nghĩa của từ. Giáo viên có thể chọn 
nhiều cách để giải nghĩa: giải nghĩa bằng từ đồng nghĩa, bằng từ trái nghĩa, bằng 
tranh minh họa, bằng cách mô tả hoặc bằng cách đặt câu với từ cần giải nghĩa.
Ví dụ 1:
 Khi các em luyện đọc bài “Thả diều”, để giải nghĩa từ “Sông Ngân” tôi 
giúp các em hiểu từ mới này bằng cách đọc giải nghĩa trong sách giáo khoa: “dải 
Ngân Hà” nghĩa là dải trắng bạc, vắt ngang bầu trời, được tạo nên từ nhiều ngôi 
sao, trông giống một con sông.
Ví dụ 2:
 Hoặc khi giải nghĩa từ “quả cầu giấy” trong bài “Cùng vui chơi”- SGK Tiếng 
Việt 2, tập 2 - tôi cho học sinh quan sát quả cầu giấy để giải thích: Là đồ chơi 
gồm một đế nhỏ hình tròn, trên mặt cắm lông chim hoặc một túm giấy mỏng, 
dùng để đá chuyền qua chuyền lại cho nhau.
Ví dụ 3:
 - Khi tôi muốn học sinh hiểu từ “Vầng dương” – Bài “Cánh đồng quê e”, 
tôi cho các em đọc phần chú giải trong sách giáo khoa sau đó yêu cầu các em đặt 
câu với từ đó.
3. Biện pháp 3: Rèn đọc đúng tiến tới bước đầu rèn đọc hay (diễn cảm)
* Mục tiêu của biện pháp
 Đọc diễn cảm là một yêu cầu được đặt ra khi đọc những văn bản có những 
yếu tố nghệ thuật. Đó là việc đọc thể hiện kỹ năng làm chủ ngữ điệu, chỗ ngừng 
giọng, cường độ giọng... để thể hiện đúng tư tưởng, tình cảm mà tác giả đã gửi 
gắm trong bài đọc, đồng thời thể hiện được sự thông hiểu, cảm thụ của người 
đọc qua bài đọc. Để đọc diễn cảm thì người đọc phải làm chủ được tốc độ đọc, 
chỗ ngắt giọng, biết nhấn giọng ở những từ ngữ gợi cảm, gợi tả, biết đọc đúng 
ngữ điệu khi gặp câu hỏi, câu cảm...
 11/20 - Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc hay thông qua việc dẫn dắt gợi mở để 
học sinh thể hiện tình cảm, thái độ qua giọng đọc phù hợp với hình ảnh cảm xúc 
trong bài.
 - Giáo viên viết đoạn văn ra băng giấy hoặc bảng phụ (chuẩn bị sẵn) gắn 
lên bảng để học sinh tìm ra cách đọc. Gọi 1, 2 em đọc tốt đọc diễn cảm. Nếu học 
sinh chưa đọc được thì giáo viên đọc mẫu cho các em.
Ví dụ: câu trong bài “Ông ngoại” cần nhấn giọng các từ ngữ được gạch chân 
nhằm nêu bật được vẻ đẹp của bầu trời sắp vào thu:
“Trời xanh ngắt trên cao, xanh như dòng sông trong trôi lặng lẽ giữa những 
ngọn cây hè phố.”
Hay trong câu: “Trước ngưỡng cửa của trường tiểu học tôi đã may mắn có ông 
ngoại – Thầy giáo đầu tiên của tôi.” Cần nhấn giọng ở các từ ngữ được gạch 
chân để thể hiện tình cảm biết ơn của bạn nhỏ đối với ông ngoại - người thầy 
giáo đầu tiên của bạn.
* Đối với câu chuyện xuất hiện những nhân vật
 Những câu chuyện xuất hiện những nhân vật thì cần đọc sao cho giọng 
đọc phù hợp với tính cách nhân vật trong câu chuyện là không thể thiếu.
Giáo viên cần hướng dẫn học sinh cụ thể trong từng câu chuyện.Cần xác định 
được truyện có những nhân vật nào.Trước tiên cần biết đọc phân biệt lời dẫn 
chuyện với lời của các nhân vật trong truyện.Sau đó tìm hiểu tính cách của từng 
nhân vật ra sao để có giọng đọc thích hợp và thay đổi giọng đọc như thế nào 
trong từng văn cảnh cho phù hợp với diễn biến của câu chuyện.Bước đầu biết 
làm chủ được giọng đọc đối với ngữ điệu, tốc độ, đọc cao giọng hay thấp giọng, 
âm sắc nhằm diễn tả đúng nội dung bài.
Ví dụ:
 Trong câu chuyện “Cậu bé thông minh”, giáo viên cần cho học sinh nêu 
được và đọc được các giọng đọc khác nhau của hai nhân vật và người dẫn 
chuyện. Đó là:
 13/20

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_phat_trien_nang_luc_d.doc