Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp dạy đọc hay cho học sinh Lớp 2
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp dạy đọc hay cho học sinh Lớp 2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp dạy đọc hay cho học sinh Lớp 2

ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN TRƯỜNG TIÊU HỌC THANH XUÂN TRUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY ĐỌC HAY CHO HỌC SINH LỚP 2 Lĩnh vực: Tiếng Việt Cấp học : Tiểu học Tên Tác giả : Trần Thị Bách Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thanh Xuân Trung Chức vụ : Giáo viên cơ bản NĂM HỌC 2019 -2020 với một đứa trẻ thì việc đọc lại càng có ý nghĩa thực tế hơn. + Trước hết là trẻ phải đi học, phải học đọc, sau đó trẻ phải đọc để học. Việc đọc giúp trẻ chiếm lĩnh một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập. Nó là công cụ để học tập các môn học khác. + Đọc sẽ tạo ra hứng thú và động cơ học tập, tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời. + Mục đích cuối cùng của việc đọc là để hiểu và vận dụng những điều đã học vào cuộc sống. Vì vậy, sau khi đã hoàn thành việc đọc đúng, đọc trơn ở lớp 2 sang lớp 3 các em sẽ tiếp tục được hoàn thiện và tập trung vào việc đọc hiểu và diễn cảm nhiều hơn. Chính những điều kiện vừa nêu trên khẳng định sự cần thiết việc hình thành và phát triển một cách có hệ thống về năng lực đọc cho học sinh. Là một giáo viên được phân công giảng dạy lớp hai, bản thân tôi luôn băn khoăn, về việc tìm ra một số giải pháp nào đó nhằm nâng cao kĩ năng đọc cho học sinh, giúp học sinh dễ dàng hơn trong việc tiếp cận kiến thức. Đó cũng là lý do tôi chọn đề tài "Rèn kĩ năng đọc hay cho học sinh lớp 2" để nghiên cứu, nhằm trao đổi cùng đồng nghiệp trong việc giáo dục con người mà mỗi giáo viên chúng ta đang đảm nhận nhiệm vụ cao cả đó. 2. Mục đích của sáng kiến kinh nghiệm - Rèn kỹ năng nghe đọc, khi đọc văn bản đọc đúng thông thạo, không mắc lỗi, đạt tốc độ quy định. - Kết hợp đọc với hiểu nội dung đơn vị lời nói, cũng cố nghĩa của từ trau dồi vốn từ, nghĩa từ góp phần phát triển một số thao tác tư duy cho học sinh . - Bồi dưỡng cho học sinh một số đức tính, thái độ cần thiết. Tính chính xác, lòng tự hào, tinh thần trách nhiệm. TỔNG QUAN * Phạm vi và đối tượng của sáng kiến kinh nghiệm - Đối tượng: Đối với phân môn Tập đọc thì đối tượng dạy học chủ yếu tập trung ở học sinh Tiểu học. Vì vậy đối tượng nghiên cứu tập trung ở học sinh đầu cấp Tiểu học mà cụ thể là học sinh lớp 2A5 mà tôi đang làm giáo viên chủ nhiệm. - Phạm vi: Trường Tiểu học Thanh Xuân Trung nơi tôi đang công tác là một ngôi trường nằm trong địa bàn quận Thanh Xuân. Là một ngôi trường đang lớn mạnh và phát triển tuy nhiên mặt bằng học sinh chưa đồng đều. 3. Phương pháp nghiên cứu Để đạt được mục đích rèn đọc cho học sinh tôi đã sử dụng một số phương pháp sau: 1. Thu thập tài liệu, nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến đề tài, tìm hiểu sách giáo khoa Tiếng Việt 2, sách giáo viên. Quá trình hiểu văn bản: - Hiểu nghĩa các từ. - Hiểu nghĩa các câu. - Hiểu các khối, đoạn, những tập hợp câu dùng để phát biểu một ý nghĩa trọn vẹn. - Hiểu được cả bài. - Tuy nhiên, học sinh Tiểu học - đặc biệt là học sinh lớp 2 - không phải bao giờ cũng dễ dàng hiểu được những điều đang học, đa số các em tập trung vào việc nhận ra mặt chữ, phát thành âm.Vì vậy, việc dạy Tập đọc phải đi dần từng bước, từ yêu cầu đơn giản đến yêu cầu phức tạp, đó là đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu, thông qua nhiều vòng hoạt động trong tiết Tập đọc. 2. Cơ sở thực tiễn 2.1 Thực trạng của vấn đề Học sinh lớp 2 còn nhỏ,có những hạn chế về tâm sinh lý nên điều kiện tiếp xúc xã hội còn găp nhiều khó khăn. Các em còn rụt rè chưa tự tin. Chính vì vậy mà trong giờ học,các em thường ít phát biểu, ngại nói ra những suy nghĩ của mình. Một vài em tuy có bạo dạn hơn song khi đứng lên nói,các em không dám bộc lộ giọng đọc phù hợp với văn cảnh vì sợ các bạn và thầy cô giáo chê cười. Chính vì vậy mà giờ Tập đọc còn buồn tẻ, học sinh đọc thêm bớt từ, sai lỗi, chưa diễn cảm, chưa phù hợp với văn cảnh của văn bản. Thực tế qua khảo sát chất lượng đầu năm của học sinh tôi nhận thấy rằng học sinh phát âm sai nhiều, phổ biến là sai các phụ âm đầu vần và dấu thanh. Trong đó phổ biến là các phụ âm đầu như l/n và các dấu thanh hỏi, ngã. Ngoài ra các em chưa biết đọc diễn cảm, giọng đọc còn đều đều, chưa biết thể hiện lên giọng hoặc hạ giọng, đôi khi còn kéo dài giọng ở các câu thơ, câu văn khiến người nghe không cảm nhận được cái hay của bài văn, bài thơ đó. Các lỗi học sinh thường mắc là : *Đọc sai do phát âm hoặc từ có vần khó: - l/n: lan/nan; lữ/nữ; nước/lước - Từ có vần khó: quả ổi/quả ủi quay/quai. * Đọc nhầm, lẫn lộn các dấu thanh: - Lỗi do đọc nhầm dấu huyền thành dấu sắc và ngược lại: cùng/cúng. - Lỗi do đọc nhầm dấu ngã thành dấu sắc và ngược lại:cũng/cúng. *Đọc bớt tiếng hoặc thêm tiếng: Ví dụ ở bài Tập đọc “Bím tóc đuôi sam”có một câu: “Một hôm, Hà nhờ mẹ tết cho hai bím tóc nhỏ, mỗi bím tóc buộc một cái nơ.” Câu này học sinh lại đọc mắn được Quận, Phòng giáo dục, Ban giám hiệu nhà trường trang bị đầy đủ cho cả thiết bị hiện đại như máy chiếu nên việc dạy học phân môn Tập đọc có rất nhiều thuận lợi. Cho các em tự phát hiện từ khó đọc nhưng cần có biện pháp định hướng rõ ràng, cụ thể, không nên cho học sinh tìm lan man, không có trọng tâm.Giáo viên cần nắm chắc quy tắc ngắt giọng ở những câu dài (hoặc ngắn) ở các văn bản thơ để khi dạy học sinh không ngắt giọng sai. Hay cách giúp học sinh hiểu nghĩa của từ phong phú .Tất cả những thực tế trên đều làm tăng hiệu quả của các tiết dạy Tập đọc ở lớp 2 hiện nay. - Sáng kiến kinh nghiệm này tôi thực nghiệm ở lớp 2A5. Tôi tiến hành khảo sát học sinh lớp 2a5 và 2A4 để cuối kì đánh giá tôi sẽ có cơ sở so sánh chất lượng lớp thực nghiệm sáng kiến với lớp không thực nghiệm sáng kiến. * Kết quả khảo sát học sinh đọc ngày 10/9/2019 Đọc sai phụ Lớp Đọc ngọng âm đầu Đọc sai Đọc đúng Đọc hay Sĩ số dấu SL % SL % SL % SL % SL % 2A5 54 2 3,7 10 18,5 0 0 40 70,1 2 7,7 2A4 50 1 2 3 6 1 2 40 80 5 10 2.2 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề * Một số biện pháp dạy tập đọc cho học sinh lớp 2 Năng lực đọc được cụ thể hoá thành các kỹ năng đọc. Chúng chỉ được hình thành khi học sinh thực hiện hai hình thức đọc: đọc thành tiếng và đọc thầm. Chỉ khi nào học sinh thực hiện thành thạo hai hình thức đọc này mới gọi là biết đọc. Trươc khi dạy học sinh đọc hay, cần dạy học sinh đọc đúng. Vì vậy, tổ chức dạy tập đọc cho học sinh chính là quá trình làm việc của cô và trò để thực hiện hai hình thức này, nhằm hướng tới mục đích cuối cùng của việc đọc là thông hiểu nội dung văn bản. Trong một lớp học, hai hình thức này thường được thực hiện đồng thời: Trong lúc cô giáo hay một học sinh đọc thành tiếng thì các học sinh khác đọc thầm. Để trả lời câu hỏi của giáo viên, học sinh phải đọc thầm từng câu, đoạn của bài. Chất lượng của đọc thành tiếng bao gồm 4 kỹ năng: (Đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu, đọc hay). Chất lượng của đọc thầm chỉ gồm ba phẩm chất đầu, đọc diễn giáo viên cần tập cho các em đọc to chừng nào bạn ở xa nhất trong lớp nghe thấy mới thôi. Nếu đứng đọc tư thế phải đàng hoàng, thoải mái, sách được mở rộng và cầm bằng hai tay. - Luyện đọc đúng: + Đọc đúng: Là sự tái hiện âm thanh của bài đọc một cách chính xác, không có lỗi. Đọc đúng là không được đọc thừa, không thiếu âm, vần, tiếng. Đọc đúng bao gồm phát âm chính xác và đọc đúng ngữ điệu (ngắt nghỉ hơi đúng cho). + Luyện đọc đúng: Giáo viên phải rèn cho học sinh thể hiện chính xác các âm vị Tiếng Việt. . Đọc đúng phụ âm đầu: Giúp học sinh có ý thức phân biệt các phụ âm đầu, dễ đọc sai theo đặc điểm cách phát âm địa phương. VD: 1 - n; ch - tr; r - d. Học sinh không đọc "cây che", "dực rỡ", "nàm việc", mà phải đọc "cây tre", "rực rỡ", "làm việc"..... .Đọc đúng các âm chính - đặc biệt là một số âm khó: VD: Không đọc: "yêu tiên", "con hiêu", "cấp cíu" mà phải đọc "ưu tiên", "con hươu", "cấp cứu" . Đọc đúng các âm cuối: VD: Học sinh có ý thức không đọc "thủa nào" "quai lại", "mịm màng" mà phải đọc là: " "thưở nào" "quay lại", "mịn màng" . Đọc đúng các dấu thanh do địa phương hay do ngọng thành thói quen. VD: Không đọc "lá chá", "bớ ngớ" mà đọc là "lã chã", "bỡ ngỡ". Ngoài ra đọc đúng bao gồm cả đúng tiết tấu, ngữ điệu câu. Cần phải dựa vào nghĩa và quan hệ ngữ pháp giữa các tiếng, từ để ngắt hơi cho đúng. Trong một số bài văn xuôi, học sinh thường mắc lỗi ngắt giọng ở một số câu dài để lấy hơi một cách tuỳ tiện (còn gọi là ngắt giọng sinh lý) mà không tính đến nghĩa, tạo ra những lỗi ngắt giọng lô gích. VD: Trường mới xây trên/nền ngôi trường lợp lá cũ. (Ngôi trường mới - Tiếng Việt lớp 2, tập 1) Hoặc trong một số bài thơ, học sinh hay mắc lỗi ngắt nhịp do không tính đến nghĩa mà chỉ đọc theo áp lực của nhạc thơ, (tạo ra sự cân đối về mặt âm thanh "Em cầm tờ / lịch cũ Ngày hôm qua đâu rồi" mà phải đọc: "Em cầm / tờ lịch cũ Ngày hôm qua đâu rồi ". Hay không được ngắt giọng như sau: "Cô tiên phất chiếc / quạt màu nhiệm " (Bài Bà cháu - TV lớp 2 - Tập 1). mà phải ngắt: "Cô tiên phất / chiếc quạt màu nhiệm" Không tách giới từ với danh từ đi sau nó. VD: Không đọc "Thế là trong/ lớp chỉ còn mình em viết bút chì" (Bài Chiếc bút mực - TV lớp 2 - Tập 1) mà cần đọc là: "Thế là trong lớp / chỉ còn mình em viết bút chì" Không ngắt giọng sau một hư từ (vì hư từ gắn bó chặt chẽ với bộ phận đi sau nó tạo thành ngữ đoạn mang trọng âm - do đó không được ngắt giọng sau hư từ là những tiếng không mang trọng âm trong lời nói). VD: Không đọc "Nhưng sáng mai em sẽ / làm ạ!" Hoặc câu thơ lục bát "Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con" Nếu ngắt theo nhịp đôi bình thường thì ta sẽ ngắt nhịp sau tiếng "đã" - ngắt như vậy sẽ không chính xác mà câu thơ này sẽ phải ngắt theo nhịp 3 - 5. "Chẳng bằng mẹ /đã thức vì chúng con". Dựa vào quan hệ cú pháp và nghĩa sẽ giúp chúng ta xác định cách ngắt nhịp đúng. Ví dụ: Câu: xác ba âm tr, r, s. (VD: Nước chong, cá dô, chim xáo...). Trong một tiết tập đọc, thời gian dành cho việc luyện đọc từ ngữ khó chỉ có một giới hạn nhất định, vì vậy không nên luyện đọc tràn lan mà lên phân loại như: Từ khó đọc phần âm, từ khó đọc phần vần - để định hướng cho học sinh khi tự phát hiện từ khó trong bài hoặc trong một bài khi cần luyện đọc phân biệt các âm đầu n, l; ch, tr; x, s... thì cũng nên đọc các từ điển hình giúp học sinh phân biệt, nắm được cách đọc, từ đó có thể đọc tốt các từ còn lại tương tự mà không nhất thiết phải luyện đọc tất cả các từ khó có trong bài. VD: Trong bài "Gọi bạn" tôi sẽ cho học sinh luyện đọc các từ sau: - Thuở ( học sinh hay đọc nhầm âm cuối thành "thủa"). -Rừng xanh. -Sâu thẳm. - Lang thang. - Khắp nẻo. Với các từ ngữ trên đây mà tôi chọn để luyện đọc cho học sinh gần như có mặt đầy đủ các đại diện về âm - vần cần luyện đọc trong bài (phân biệt r - d; x - s; l - n...) Khi luyện đọc tôi sẽ cho các em nêu cách đọc các âm hay nhầm lần - Qua đó các từ ngữ khác tương tự còn lại trong bài các em sẽ vận dụng và đọc tốt (VD trong bài còn các từ: Năm, nào, sống, suối, lấy...) Tương tự như vậy, khi hướng dần học sinh ngắt giọng tôi sẽ chọn những câu mà chỗ cần ngắt giọng không hoàn toàn trùng với dấu câu, sau đó cho học sinh tự tập xác định chỗ ngắt giọng - qua đó dần hình thành cho các em quy tắc ngắt giọng khi đọc cho phù hợp - tuy không nêu ra thành lời nhưng học sinh cảm nhận bằng trực giác thông qua quá trình luyện tập thường xuyên. VD: Câu: “ Vì vậy, / mỗi lần cậu kéo bím tóc, / cô bé lại loạng choạng / và cuối cùng / ngã phịch xuống đất.// ”, chúng ta sẽ nhấn giọng vào các từ: kéo, loạng choạng, ngã phịch. Ngoài ra học sinh cũng cần biết cách nghỉ hơi đúng theo dấu câu, nghỉ hơi ít ở dấu phẩy, nghỉ hơi lâu ở dấu chấm, biết lên giọng ở cuối câu
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_day_doc_hay_cho_hoc_s.docx