Sáng kiến kinh nghiệm Đổi mới phương pháp dạy tập đọc Lớp 2

doc 14 trang sangkienhay 24/02/2024 3110
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Đổi mới phương pháp dạy tập đọc Lớp 2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Đổi mới phương pháp dạy tập đọc Lớp 2

Sáng kiến kinh nghiệm Đổi mới phương pháp dạy tập đọc Lớp 2
 A. PHẦN MỞ ĐẦU:
 I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
 Báo cáo chính trị Đại hội IX của Đảng (2001) đã chỉ rõ:"Phát triển giáo 
dục là nền tảng, nguồn nhân lực chất lượng cao, là một trong những động lực 
quan trọng thúc đẩy sự nhgiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là yếu tố 
cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững".
 Bước vào thế kỷ XXI, giáo dục Việt Nam đã trải qua hơn mười năm đổi 
mới và thu được nhều thành quả tốt đẹp. Tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt 
được, từng bước thực hiện các mục tiêu của xã hội. Năm học 2003-2004 toàn 
ngành giáo dục cùng đẩy mạnh phong trào thi đua: Dạy tốt- học tốt, nâng cao 
chất lượng giáo dục tạo sự đột biến có tính đột phá đi lên con đường công 
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
 Ngày nay, đất nước đang trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nên 
rất cần những con người có tri thức, có khoa học kỹ thuật. Trước yêu cầu của sự 
phát triển kinh tế xã hội đòi hỏi nền giáo dục phải thay đổi mục tiêu đào tạo, xét 
lại nội dung và phương pháp dạy học. Đó là việc làm rất bức xúc và cần thiết 
hiện nay.
 Chính vì vậy, chất lượng dạy và học trong nhà trường đang là vấn đề được 
các nhà giáo dục hết sức quan tâm. Đây là một trong những việc làm quan trọng, 
góp phần đào tạo nhân tài cho đất nước. Vì thế, biết bao thầy cô giáo ngày đêm 
miệt mài nghiên cứu để có những sáng kiến mới, những kinh nghiệm hay, nhằm 
cải tiến phương pháp dạy học cho phù hợp với nhận htức của học sinh.
 Trong giáo dục phổ thông nói chung và ở trường Tiểu học nói riêng, môn 
học Tiếng Việt là một môn quan trọng, chiếm vị trí chủ yếu trong chương trình. 
Môn này có đặc trưng cơ bản là: Nó vừa là môn học cung cấp cho học sinh một 
khối lượng kiến thức cơ bản nhằm đáp ứng được những mục tiêu, nhiệm vụ của 
từng bài học, vừa là công cụ để học tập tất cả các môn học khác. Trẻ em muốn 
nắm được kỹ năng học tập, trước hết cần nghiên cứu tiếng mẹ đẻ- chìa khoá của 
nhận thức, của học vấn, của sự phát triển trí tuệ đúng đắn, nó cần thiết cho tất cả 
các em khi bước vào cuộc sống. Ở nước ta, môn Tiếng Việt có vai trò quan 
trọng, là một môn học chính ở nước ta, trong đó không thể không kể đến môn 
Tập đọc.
 Dạy môn Tập đọc trong các trường Tiểu học đang là vấn đề được các 
trường, các nhà nghiên cứu và toàn xã hội quan tâm. Biết đọc là có thêm một 
công cụ mới để học tập, để giao tiếp, để nắm bắt được mọi thông tin diễn ra 
hàng ngày trong xã hội. Thông qua việc đọc các tác phẩm văn chương, con 
người không những được thức tỉnh về nhận thức mà còn rung động về tình cảm, 
nảy nở những ước mơ tốt đẹp, được khơi dậy năng lực hành động, sức mạnh 
cũng như được bồi dưỡng tâm hồn. Tập đọc là một phân môn thuộc bộ môn 
Tiếng Việt bậc Tiểu học, nó giữ vai trò cực kỳ quan trọng, trước hết giúp học 
sinh rèn luyện các kỹ năng đọc (đọc đúng, diễn cảm) một văn bản. Xét về tính 
mục đích dù trong khuôn khổ của chương trình cấp học, đọc vẫn là một hình 
thức chiếm lĩnh tác phẩm. Hay nói rộng hơn đọc để tiếp cận thế giới nghệ thuật 
mà nhà văn xây dựng.
 1 thiếu ý thức (đồng thanh nhiều, ít được nhắc nhở uốn nắn nên đọc ê a như "cầu 
kinh", liến thoắng, vội vã, hấp tấp).
 - Do ảnh hưởng cách phát âm của phương ngữ tại tỉnh nhà thường mắc lỗi 
như: 
+ Phát âm không chuẩn xác một số phụ âm đầu: l/n; tr/ch; s/x
+ Đọc và dùng từ địa phương: chổi/ chủi; bảo/ bẩu; ổi/ ủi; đứt/ đất; sổi/ sủi; nổi/ 
nủi; nhiều/ nhều; cổng/ củng
 2. Giáo viên: 
 - Quá sa vào giảng văn, lúng túng trong xử lý phần tìm hiểu bài. Đây là 
điểm vướng mắc khá phổ biến mà nhiều giáo viên vẫn chưa tìm ra cách gỡ. Một 
số giáo viên lúc nào cũng thấy giảng chưa đủ học sinh hiểu, mà quên rằng học 
sinh Tiểu học "tiêu hoá" kiến thức ít hơn học sinh Trung học cơ sở.
 - Phần luyện đọc nhiều giáo viên cho là dễ, nhưng thực chất đây là phần 
khó nhất, phần trọng tâm của bài giảng. Ở khâu này, giáo viên ít mắc lỗi về thao 
tác kỹ thuật nhưng lại không biết dạy như thế nào để phát huy tính tích cực, sáng 
tạo của học sinh, chưa chú ý đến tốc độ đọc của các em theo yêu cầu về kiến 
thức và kỹ năng cơ bản phù hợp với từng khối lớp. 
 - Phần hạn chế thường gặp nhất là giáo viên phân bố thời gian chưa hợp 
lý. Có những phần dạy quá sâu hoặc dông dài, không cần thiết. Có phần lại hời 
hợt chưa đủ độ "cần" của bài giảng. Thường thấy nhất là hiện tượng học sinh 
không còn thời gian luyện đọc, dẫn đến hiệu quả giờ dạy đạt không cao. Không 
sửa được lỗi phát âm sai chủ yêú của học sinh. 
 - Một hạn chế rất phổ biến ở giáo viên khi dạy Tập đọc là không phân biệt 
được sự khác nhau giữa tiết Tập đọc và tiết Tập đọc - học thuộc lòng. Nhiều 
giáo viên chỉ thấy sự khác nhau ở các lớp đầu cấp khi cho học sinh đọc đồng 
thanh ,mà quên rằng nhiệm vụ chủ yếu của tiết Tập đọc là luyện đọc cá nhân, 
còn nhiệm vụ của tiết Tập đọc- học thuộc lòng là vừa phải luyện đọc vừa kết 
hợp rèn trí nhớ.
 - Ít chú ý đến đối tượng học sinh yếu cũng là lỗi thường gặp trong tiết Tập 
đọc. Trong giờ dạy, nhất là những giờ có người dự, nhiều giáo viên cố tình "bỏ 
quên" đối tượng này, coi như không có các em trong đội quân đi tìm tri thức ở 
lớp mình. Nguyên nhân là do các em đọc chậm, trả lời ngắc ngứ làm giảm tốc độ 
thi công của tiết dạy. Tuy vậy nhiều khi lỗi này do người dự "tập hư" cho người 
dạy. Dự một giờ thấy học sinh trả lời trôi chảy, bài giảng tiến hành thuận lợi, 
người dự thường khen là được. Ngược lại, trong tiết dạy giáo viên chú ý tập đọc, 
trả lời cho học sinh yếu, người dự thường phê "dạy buồn" - Mặc dù lựa chọn 
phương pháp phù hợp đối tượng là những nguyên tắc dạy học ai cũng biết.
 - Có một số giáo viên tuổi cao, mặc dù có nhiều kinh nghiệm trong giảng 
dạy, nhưng do phương pháp dạy học truyền thống đã tiềm tàng, khả năng nắm 
bắt phương pháp mới còn hạn chế. Các bước lên lớp còn công thức, chưa linh 
hoạt, mềm dẻo. Vì vậy tiết Tập đọc còn buồn tẻ, đơn điệu. Các em nặng về học 
vẹt, năng về nội khoá, chưa coi trọng ngoại khoá, chưa khuyến khích các em đọc 
thêm sách báo ở nhà. Khâu thực hành còn yếu, nhất là khâu luyện đọc, đặc biệt 
là rèn đọc diễn cảm cho học sinh. Các em đọc còn gặp khó khăn khi tiếp xúc với 
những câu văn dài và đọc phân vai. 
 3 cha mẹ, rộng ra là núi sông, trời biển, Tổ quốc, nhân dân, lãnh tụ, từ đó hình 
thành dần trong các em ý thức cá nhân giữa cộng đồng, ý thức công dân trong 
lòng thiên nhiên, dân tộc. Đặc biệt, mạch bài cổ tích, ngụ ngôn, truyện vui trong 
và ngoài nước được đưa vào dạy khá hấp dẫn, dí dỏm, sinh động, dễ hiểu, dễ 
nhớ đối với các em. Đó là những bài học về sự tích các loài (Sự tích cây vú sữa, 
Cò và Vạc); Hiện tượng thiên nhiên (Sơn Tinh, Thuỷ Tinh); Nguồn gốc các dân 
tộc anh em (Chuyện quả bầu); Bài học về tính kiên trì (Có công màu sắt có ngày 
lên kim); Phê bình sự lười biếng (Há miệng chơ sung); Ca ngợi lao động (Kho 
báu); Trí thông minh (Một trí khôn hơn trăm trí khôn, quả tim của khỉ); Lòng 
biết ơn (Tìm ngọc); Sự gian ác phải trả giá (Bác sĩ Sói); Nhìn người giao việc 
(Sư tử xuất quân); Bài học về tình làng nghĩa xóm (Cháy nhà hàng xóm). Những 
bài trên phần lớn được rút ra từ kho tàng văn học dân gian hoặc từ tác phẩm nổi 
tiếng của các tác giả lớn trên thế giới. Sang mảng thơ và văn vần bài đồng dao: 
(Vè chim) rất hấp dẫn, làm bật ra rất nhanh tính nết của mỗi loài, vừa hợp với 
sức đọc (do câu ngắn) vừa mang nhịp học mà vui, vui mà học.
 3. Yêu cầu về kiến thức- kỹ năng của phân môn Tập đọc lớp 2.
 Ở lớp 2, việc dạy Tập đọc cần đạt được những yêu cầu sau: 
 - Trau dồi vốn Tiếng Việt, vốn văn học, phát triển tư duy, mở rộng sự 
hiểu biết của học sinh về cuộc sống. 
 - Bối dưỡng tư tưởng tình cảm và tâm hồn lành mạnh trong sáng, tình yêu 
cái đẹp, cái thiện và thái độ ứng xử đúng mực trong cuộc sống, hứng thú đọc 
sách và yêu thích Tiếng Việt.
 - Đọc rõ ràng, rành mạch từng câu, tường đoạn trong bài Tập đọc (Thơ 
hay văn xuôi), biết đọc rõ từ và nghỉ hơi ở dấu chấm, ngắt hơi ở dấu phẩy. 
Cường độ đọc vừa phải (không đọc quá to hay đọc lí nhí). Tốc độ đọc vừa phải, 
đạt yêu cầu khoảng 50 tiếng/ 1 phút.
 - Đọc thầm và hiểu nội dụng bài đọc. Nắm được nghĩa của các từ ngữ 
trong văn cảnh (bài đọc); nắm được nội dung của câu, đoạn hoặc bài đã đọc. 
Biết cách trả lời câu hỏi về nội dung, ý nghĩa của bài đọc. 
 - Có giọng đọc phù hợp với thể loại và nội dung bài đã học. Thông qua 
các bài Tập đọc, một mặt học sinh được cung cấp thêm vốn từ ngữ cơ bản theo 
chủ đề, mặt khác vốn tri thức về cuộc sống của các em cũng được mở rộng và 
nâng cao.
 Dạy bài Tập đọc giáo viên cần hiểu rõ mối quan hệ qua lại giữa hai hoạt 
động chính của tiết học là luyện đọc và tìm hiểu bài, trong đó việc luyện đọc 
được coi là trọng tâm. Hai hình thức luyện đọc chủ yếu mà giáo viên cần lưu ý 
quan tâm là đọc thành tiếng (trong đó chú ý yêu cầu đọc đúng, rõ ràng, rành 
mạch) và đọc thầm. Giữa hai hình thức này có một hình thức đọc mang tính chất 
chung gian là đọc nhẩm (có mấp máy môi, âm thanh phát ra rất khẽ, không rõ 
tiếng).
 Khi học sinh luyện đọc, giáo viên cần giúp học sinh luyện đọc đúng 
những từ, cụm từ, câu khó đọc trong bài, hướng dẫn các em ngắt, nghỉ hơi ( nhất 
là đối với các câu dài). Trình độ (đọc mẫu) của giáo viên có ảnh hưởng đáng kể 
đến kết quả bài dạy. Do đó giáo viên càn rèn luyện để có trình độ đọc tốt, góp 
phần làm cho giờ Tập đọc đạt hiệu quả cao.
 5 + Bài văn, bài thơ nói về ai?
 + Trong bài có những nhân vật nào? Ai đang trò chuyện? 
 + Phát hiện giọng đọc của đoạn, bài, từng nhân vật? 
 4.3. Cải tiền hệ thống câu hỏi để hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài:
 - Bổ sung thêm câu hỏi phát hiện những hình ảnh trực cảm, trước khi dẫn 
đến câu hỏi có tính chất khái quát giúp trẻ em cảm nhận trực tiếp các hình ảnh 
cụ thể trong bài, từ đó dẫn dắt quá trình hồi tưởng, so sánh, đánh giá để bước 
đầu nhận thức được nội dung của bài học.
 - Những câu hỏi vận dụng ngôn ngữ thường được sử dụng vào phần đọc 
cá nhân (luyện đọc) để khỏi phân tán chiều hướng cảm xúc đang được hình 
thành ở bước tìm hiểu bài. Đó là những câu hỏi tìm từ gần nghĩa, từ láy, đặt câu 
có từ đã học.
 - Đặt thêm những câu hỏi về đọc diễn cảm để tiếp tục khơi sâu nguồn cảm 
xúc khi rèn đọc cho học sinh. Các dạng câu hỏi như: Phát hiện cách đọc diễn 
cảm của cô giáo: Cô ngừng nghỉ chỗ nào khi gặp các câu dài, cô nhấn giọng, hạ 
giọng, kéo dài giọng ở chỗ nào, từ nào? Phát hiện giọng đọc của từng đoạn, cả 
bài từng nhận vật.
 - Phân loại các dạng câu hỏi khi khai thác bài văn:
 + Câu hỏi làm tái hiện nội dung chính của bài (Loại câu hỏi này dùng để 
giảng từ và ý).
 + Câu hỏi bắt buộc học sinh phải so sánh, liên tưởng, liên hệ thực tế.
 - Câu hỏi mở rộng vận dụng kiến thức cuộc sống.
Hệ thống câu hỏi đặt ra phải được nâng bậc từ thấp đến cao và cuối cùng chốt lại 
ở phần tổng kết bài, mở rộng và liên hệ thực tế, giáo dục đạo đức cho học sinh; 
có thể đưa thêm câu hỏi ngoài những câu hỏi có sẵn ở sách giáo khoa.
 Ví dụ: Bài Bé Hoa - Tiếng Việt 2 - Tập 1:
 Tôi đưa ra hệ thống câu hỏi như sau: 
 + Em biết những gì về gia đình Hoa?
 + Em Nụ có những nét gì đáng yêu?
 + Hoa đã làm gì giúp mẹ?
 + Ở lớp ta có những bạn nào có em bé?
 + Em thường làm gì thể hiện yêu quý em bé?
 + Không có em bé, em đã làm gì giúp bố mẹ?
 + Trong thư gửi bố, Hoa kể chuyện gì và mong ước điều gì?
 + Em hãy tưởng tượng xem bố sẽ nói gì với Hoa?
 + Theo em Hoa đáng yêu ở điểm nào?
 + Em học tập được ở Hoa điều gì?
 4.4: Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh:
 Trong giảng dạy Tiếng Việt, chúng ta không nên xem nhẹ việc bồi dưỡng 
năng lực cảm thụ văn học cho học sinh. Nếu học sinh có năng lực cảm thụ văn 
học tốt thì các em sẽ thấy được sự phong phú, trong sáng của Tiếng Việt, cảm 
nhận được cái hay, cái đẹp trong thơ - văn và phục vụ cho khả năng nói - viết 
Tiếng Việt của chính mình . Ở lớp 2, giáo viên cần cho học sinh làm quen với 
việc cảm thụ văn học qua khâu tìm hiểu bài, trả lời câu hỏi ở mức độ dễ rồi nâng 
 7

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_doi_moi_phuong_phap_day_tap_doc_lop_2.doc