Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn kỹ năng đọc cho học sinh Lớp 2 - Vũ Thị Tuyết
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn kỹ năng đọc cho học sinh Lớp 2 - Vũ Thị Tuyết", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn kỹ năng đọc cho học sinh Lớp 2 - Vũ Thị Tuyết

Phần A: ĐẶT VẤN ĐỀ. 1.Lý do chọn đề tài 1.1.Vị trí của phân môn Tập Đọc trong môn Tiếng Việt: Môn Tiếng Việt ở trường phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ thể hiện trong bốn dạng hoạt động, tương ứng với chúng là bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng từ chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó( ứng với hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh( ứng với đọc thầm). Đọc không phải chỉ là sự( đánh vần) thành tiếng theo đúng như các ký hiệu chữ viết mà còn là một quá trình nhận thức để có khả năng thông hiểu những gì được đọc. Trên thực tế nhiều khi người ta không hiểu khái niệm (đọc) một cách đầy đủ, không chú ý đúng mức việc chuyển từ âm sang nghĩa. 1.2. Đọc trong đời sống của mỗi con người .Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hóa, khoa học, tư tưởng, tình cảm của thế hệ trước và của cả những người đương thời phần lớn đã được ghi lại bằng chữ viết. Nếu không biết đọc thì con người không thể tiếp thu nền văn minh của loài người, không thể sống một cuộc sống bình thường, có hạnh phúc với đúng nghĩa của từ này trong xã hội hiện đại. Biết đọc, con người đã nhân khả năng tiếp nhân lên nhiều lần. Từ đây,con người biết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống, nhận thức các mối quan hệ tự nhiên, xã hội, tư duy. Biết đọc, con người sẽ có khả năng chế ngự một phương tiện văn hóa cơ bản giúp họ giao tiếp được với thế giới bên trong của người khác, thông hiểu tư tưởng, tình cảm của người khác. Đặc biệt khi đọc các tác phẩm văn chương, con người không chỉ được thức tỉnh về nhận thức mà còn rung động tình cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp, được khơi dậy năng lực hành động, sức mạnh sáng tạo cũng như được bồi dưỡng về tâm hồn. Không biết đọc, con người sẽ không có điều kiện hưởng thụ sự giáo dục mà xã hội dành cho họ, không thể hình thành được một nhân cách toàn diện. Đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin thì biết đọc ngày càng quan trọng vì nó sẽ giúp người ta sử dụng các nguồn thông tin, đọc chính là học, học nữa, học mãi, đọc để tự học, học cả đời. 1.3. Sự cần thiết của việc rèn khĩ năng đọc cho học sinh ở trường tiểu học.Vì những lẽ trên, dạy học có một ý nghĩa rất to lớn ở bậc tiểu học. Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với người đi học. Đầu tiên trẻ phải học đọc, sau đó trẻ phải đọc để học. Đọc giúp trẻ em chiếm lĩnh được một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập. Nó là công cụ để học tập các môn học khác. Nó tạo ra hứng thú và động cơ học tập. Nó tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời. Nó là khả năng không thể thiếu được của con người thời đại văn minh. - 1 - - Học sinh từ chỗ đọc nhỏ, đọc chậm, nhát gừng đã có chuyển biến tốt, không lo sợ, biết đọc đúng, đọc nhanh (lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc) và đọc diễn cảm. - Cơ sở vật chất đầy đủ, đáp ứng được việc học tập và giảng dạy. - Nội dung nhiều bài đọc hấp dẫn, lôi cuốn được học sinh. 3.2. Khó khăn: - Khả năng tiếp thu của học sinh không đều, ngôn ngữ nói còn hạn chế. - Kiến thức về ngôn ngữ, đời sống, văn học của học sinh còn ít. - Ý thức tự rèn kỹ năng đọc, lòng ham đọc sách của một số học sinh chưa cao. - Phụ huynh ít quan tâm đến việc rèn đọc của con 3.3. Khảo sát thực trạng Đầu năm : a. Năm học 2011 – 2012: Tôi đã dạy lớp 2A với sĩ số 36 học sinh ngay từ đầu năm học tôi đã khảo sát chất lượng đọc của lớp như sau: Số học sinh Đọc đúng Đọc hay Đọc sai Số lượng % Số lượng % Số % lượng 36 em 25 em 69.5% 7 em 19.5% 4 em 21% Số HSđọc đúng không nhiều có 25 em . b. HS đọc hay ít 7em . Hầu hết các em mới từ lớp 1 lên giọng đọc đều đều , đọc từng tiếng chưa có sự nối kết từ 2 tiếng c. 4 em đọc sai đó là : d. Em Nguyễn Thị Thanh đọc ngọng những tiếng có dấu ngã . e. Em Nguyễn Thị Hường chưa thuộc mặt chữ . Đánh vần đọc chậm . Đọc trơn rất chậm . f. Em Lê Tiến Hưng đọc nhỏ ngọng l –n . g. Em Nguyễn Anh Đức không chú ý vào bài đọc ( Vì em là trẻ khuyết tật ). Cô giáo phải ngồi gần động viên mới đọc . Qua thực trạng của lớp tôi đã áp dụng các biện pháp thực hiện sau: 4. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN 1. Tổ chức dạy đọc thành tiếng. - 3 - Với thể thơ 4 tiếng, cách ngắt hơi thông thường là 2 – 2 (thể hiện sự cân đối). Ví dụ bài “Lượm” (trang 130 sách Tiếng Việt lớp 2 tập 2): với khổ thơ có câu thơ bị phá nghĩa bởi nhịp 2 – 2, giáo viên dùng bảng phụ đưa ra để hướng dẫn. Ngắt sai Ngắt đúng nhịp 1 – 3 Ngắt theo nhịp 2 – 2 > sai trọng * Trọng tâm (TA) không rơi vào các tâm của từ > nghĩa bị phá vỡ. từ “con, trên” mà rơi vào các từ đứng sau nó. Các từ đó chỉ lướt qua chứ không nhấn trọng âm. “Ca lô đội lệch” “Ca lô/ đội lệch Mồm huýt/ sáo vang Mồm/ huýt sáo vang Như con/ chim chích Như/ con chim chích Nhảy trên/ đường vàng Nhảy/ trên đường vàng Với bài thơ 5 tiếng thông thường ngắt hơi theo nhịp 2 – 3 hoặc 3 – 2. Nhưng cũng có những câu không đúng nhịp, giáo viên phải đưa vào luyện đọc. Với thể thơ lục bát là thơ dân tộc, sự cân đối rõ rệt ở nhịp. Ví dụ: Bài: “Mẹ” (trang 101 sách Tiếng Việt – Tập 1) + Không tách từ “là” với danh từ đi sau nó. Ví dụ như không đọc: “Mẹ là/ ngọn gió của con suốt đời” Mà đọc: “Mẹ/ là ngọn gió/ của con/ suốt đời” + Vì vần thơ lục bát rất chặt nên nếu đến vần 6 mà lạc nhịp (nghĩa) thì vần phải phá vỡ. Chẳng bằng mẹ đã/ thức vì chúng con. (Sai) Chẳng bằng mẹ/ đã thức vì chúng con. (Đúng) - Với thể thơ thất ngôn bát cú thường ngắt theo nhịp 4- 3 2 – 2 – 3 - Với thơ tự do: ngắt hoàn toàn dựa vào nghĩa. Với bài có tiết tấu, giai điệu phong phú sẽ dễ thể hiện. - 5 - 1.4.Luyện đọc hay. a. Đọc hay là nâng cao hơn đọc đúng. Đọc diễn cảm là một yêu cầu (bước đầu) với học sinh lớp hai. Đó là việc đọc thể hiện ở kỹ năng làm chủ ngữ điệu, chỗ ngừng giọng, cường độ giọng để biểu đạt đúng ý nghĩa và tình cảm của tác giả đã gửi gắm trong bài đọc, đồng thời thể hiện ở sự cảm thông, cảm thụ của người đọc đối với tác phẩm. Đọc hay chỉ thực hiện được trên cơ sở đọc đúng và đọc lưu loát. Hiện nay, một số giáo viên tiểu học thường đọc với cường độ chưa thật chuẩn (chỉ cần vừa đủ nghe trong một môi trường nhất định, không cần quá to, một số không biết cách nhấn đúng trọng tâm để tăng mức độ diễn cảm). * Trước hết, giáo viên phải hiểu thấu đáo và giúp học sinh hiểu được nội dung bài học đó. Đó chính là cơ sở để có thể đọc diễn cảm. Trước mỗi bài đọc, giáo viên phải đọc đúng giọng vui, buồn, giận dữ, trang nghiêm phù hợp với ý cơ bản của bài đọc, phù hợp kiểu câu, thể loại đọc có cảm xúc cao, biết nhấn giọng ở những từ ngữ biểu cảm, gợi tả, phân biệt lời nhân vật, lời tác giả. Một điều quan trọng nữa là giáo viên phải làm chủ được chỗ ngắt giọng (kỹ thuật ngắt giọng biểu cảm), làm chủ được tốc độ đọc (độ nhanh, chậm, chỗ ngân hay việc giảm nhịp đọc), làm chủ được cường độ giọng (đọc to hay nhỏ, lên giọng hay hạ giọng). Ngắt giọng biểu cảm đối lập với ngắt giọng logic. Ngắt giọng logic là chỗ dừng để tách các nhóm từ trong câu. Ngắt giọng logic hoàn toàn phụ thuộc vào ý nghĩa và quan hệ giữa các từ. Ví dụ: Bài “Cây và hoa bên lăng Bác” (trang 111 sách Tiếng Việt lớp 2 tập 2). Giáo viên hướng dẫn học sinh ngắt nhịp câu cuối như sau: Cây và hoa của non sông gấm vóc / đang dâng niềm tôn kính thiêng liêng / theo đoàn người vào lăng viếng Bác.// Các dấu ngắt câu cũng biểu hiện của ngắt giọng logic. Ngắt giọng biểu cảm là phương tiện tác động đến người nghe. Ngắt giọng logic thiên về cảm xúc. Ngắt giọng biểu cảm là những chỗ láy, sự im lặng có tác dụng truyền cảm, “gây bão tố” góp phần tạo nên hiệu quả nghệ thuật cao. Đó là sự ngắt giọng có ý đồ nghệ thuật. Ví dụ: Bài “Bàn tay dịu dàng” (Trang 66 sách Tiếng Việt lớp 2 tập 1). Bà của An mới mất nên An xin nghỉ học mấy ngày liền. Sau đám tang bà, An trở lại lớp, lòng nặng trĩu nỗi buồn//. Thế là / chẳng bao giờ An còn được nghe bà kể chuyện cổ tích, chẳng bao giờ An còn được bà âu yếm, vuốt ve Ngoài việc đọc với giọng buồn, giáo viên hướng dẫn học sinh ngắt giọng sau cụm từ “ lòng nặng trĩu nỗi buồn” lâu hơn bình thường để tạo độ - 7 - Chính nội dung bài đọc đã qui định ngữ điệu của nó nên không thế áp đặt sẵn giọng đọc của bài, ngược lại điều này phải kết luận tự nhiên của học sinh đưa ra sau khi hiểu sâu sắc nội dung bài đọc và biết cách diễn đạt thích hợp dưới sự hướng dẫn của thầy. Để hình thành kỹ năng đọc diễn cảm cần thực hiện các bài tập sau: - Tập lấy hơi và tập thở: biết thở sâu ở chỗ ngừng nghỉ để lấy hơi khi đọc. - Rèn cường độ giọng đọc – luyện đọc to (bắt đầu tử lớp 1) - Luyện đọc chính âm (đã trình bày ở phần đọc đúng) - Luyện đọc hay + Đàm thoại cho học sinh hiểu ý đồ tác giả, thảo luận vì sao đọc như vậy. Có thể đọc phân vai để làm sống lại nhân vật của tác phẩm. + Lập dàn ý bài + Đọc mẫu của cô: cô đọc mẫu và đặt câu hỏi vì sao đọc như thế. Chỗ nào trong cách đọc của cô làm cho học sinh thích. - Luyện đọc cá nhân. *Lưu ý: Trong việc tổ chức dạy đọc thành tiếng, người giáo viên ngoài việc luyện đọc cá nhân chú ý tới việc đọc đồng thanh. Tâm lý của học sinh tiểu học và đặc biệt là lớp 1, 2 rất thích đọc đồng thanh. Có những ý kiến cho rằng đọc đồng thanh sẽ không giúp trẻ luyện đọc diễn cảm. Song với giáo viên biết cách tổ chức, hướng dẫn thì việc đọc đồng thanh lại giúp trẻ tự tin, cố gắng, bỏ qua được sự e dè, nhút nhát để có thể đọc đúng và đọc hay. Và một điểu quan trọng nữa của việc đọc đồng thanh là giúp cả lớp đọc trong một tiết học. Nhưng giáo viên chú ý chỉ cho học sinh đọc đồng thanh khi các em đã được luyện tập cá nhân, tránh học sinh đọc quá to. 2. Tổ chức dạy đọc thầm. Trong một số tài liệu dạy đọc, việc tổ chức dạy đọc thành tiếng được gọi là “luyện đọc”. Nói như vậy đã bị thu hẹp nghĩa, chỉ còn ứng với một hình thức đọc – đọc thành tiếng. Từ đây, dễ dẫn đến một sai lầm trên thực tế dạy học là giáo viên tiểu học đã không chú ý đúng mức đế luyện đọc thầm cho học sinh. Sự thựC thì đọc thầm có ưu thế hơn hẳn đọc thành tiếng ở chỗ nhanh hơn đọc thành tiếng từ 1,5 đến 2 lần. Nó có ưu thế hơn hẳn để tiếp nhận, thông hiểu nội dung văn bản vì người ta không phải chú ý đến việc phát âm mà chỉ tập trung để hiểu nội dung mình đọc. Vì vậy, ngay từ cuối lớp 1 đã có hình thức đọc thầm và càng lên lớp trên thì kỹ năng này càng được củng cố. Dạy đọc thầm là làm các việc sau: - 9 - sinh cần nắm được các hình ảnh, chi tiết nghệ thuật tiêu biểu nhất, ví dụ bài “mẹ” câu cuối là câu tiêu biểu: “Mẹ là ngọn gió của con suốt đời” Cần tìm những mối liên hệ bên trong của văn bản để hiểu ý nghĩa hàm ẩn của nó chứ không phải chỉ có ý nghĩa biểu hiện, tức là cần dạy cho học sinh biết đọc giữa các hàng chữ. Nếu với những bài “Bé Hoa” mà chỉ chú ý đến những gì hiển diện trên văn bản rồi lý giải Hoa yêu em Nụ vì em Nụ xinh, em Nụ ngoan ... thì không cắt nghĩa đúng nguyên nhân của tình yêu (Hoa yêu em Nụ vì đó là em của Hoa), không làm rõ được tình chị em. Kỹ năng đọc thầm được hình thành qua việc thực hiện một hệ thống bài tập dạy đọc hiểu. Những bài tập ngày xác định những cái đích mà việc đọc thầm của học sinh hướng tới, đồng thời đó cũng là phương tiện để đạt đến sự thông hiểu văn bản của học sinh. Các bài tập này có thể yêu cầu học sinh phát hiện ra những từ mình không hiểu, yêu cầu các em giải nghĩa một số từ trong bài, nhớ và tái hiện những chi tiết, hình ảnh của bài. Cũng có thể yêu cầu học sinh nắm ý chung của đoạn, bài, lập được dàn ý, hiểu được giá trị nghệ thuật của một số yếu tố. Ở đây cần nói thêm về việc hiểu (mà nhiều tác giả gọi là cảm thụ) tác phẩm văn chương. Đó là sự thông hiểu ở một tầng bậc khác, đó không chỉ hiểu nghĩa của ngôn từ mà còn là những gì đằng sau nó, hiểu cả nghĩa đen và bóng. Ở tiểu học cũng phải dạy nghĩa bóng của từ, sự chuyển nghĩa bóng trong văn chương, những cách nói bất thường, mặc dầu ở mức độ thấp. Hiện nay có nhiều ý kiến cho rằng cần tăng cường dạy học đọc hiểu ở tiểu học điều đó không phải là tăng thời gian tìm hiểu bài trong giờ tập đọc, giảm thời gian luyện đọc thành tiếng mà tăng cường chất lượng đọc.. 3. Một bài dạy cụ thể : Sau đây tôi xin trình bày một tiết chuyên đề phân môn tập đọc lớp 2 tôi đã thực hiện ở học kỳ I năm 2011 – 2012 GIÁO ÁN BÀI DẠY : Phân môn :TẬP ĐỌC - Lớp 2 Bài : Mẹ Tuần: 12 I. Mục tiêu. 1. Đọc: - Đọc trơn được cả bài - Đọc đúng các từ: lặng rồi, nắng oi, mẹ ru, lời ru, ngôi sao, chẳng bằng, đêm nay, suốt đời ... 2. Hiểu: - Hiểu nghĩa các từ ngữ: nắng oi, giấc tròn - 11 -
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_ren_ky_nang_doc_cho_h.doc