Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh Lớp 2
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh Lớp 2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh Lớp 2

UBND HUYỆN BA VÌ TRƯỜNG TIỂU HỌC TẢN HỒNG ===o0o=== SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 2 Lĩnh vực: Tiếng Việt Tên tác giả: Tô Thị Lợi Chức vụ: Giáo viên NĂM HỌC: 2021- 2022 II- NỘI DUNG 1. Thời gian thực hiện: Từ tháng 9 năm 2021 đến tháng 3 năm 2022, tại trường Tiểu học Tản Hồng 2. Đánh giá thực trạng: Qua những năm giảng dạy và làm công tác dạy Tiếng Việt ở bậc tiểu học nói chung và dạy Tiếng việt đọc ở lớp 2C nói riêng tôi nhận thấy: Khả năng tiếp thu môn học Tiếng Việt của các em còn nhiều hạn chế so với các môn Toán hay Tự nhiên Xã hội. Ở Tiếng việt đọc lớp 2 đa phần các em đã đọc được, song một số em đọc cũng chưa được rõ ràng, chưa biết ngắt nghỉ đúng dấu chấm, dấu phẩy, nhiều em phát âm chưa phân biệt rõ phụ âm đầu, học sinh phát âm chưa đúng thanh điệu. Đặc biệt học sinh lớp tôi đang giảng dạy đa số các em đọc chưa đúng thanh điệu, kĩ thuật đọc chưa thể hiện được tình cảm, nội dung mà văn bản đề cập tới. Ví dụ như các em chưa biết nhấn giọng ở từ ngữ gợi tả, những từ ngữ trọng tâm, từ chìa khoá, trong những trường hợp sắm vai hay đối thoại các em cũng lúng túng, nhiều em cũng thiếu tự tin trong việc thể hiện giọng đọc của mình. Đối với đối tượng học sinh trung bình và yếu các em chưa xác định được đâu là giới hạn những câu đối thoại của mình. Với thực tế trên, tôi đi sâu vào nghiên cứu vấn đề rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2C với mong muốn tích lũy thêm cho bản thân những kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn nhằm đạt hiệu quả cao trong việc dạy và học. Khi tiến hành làm sáng kiến này tôi đã nghiên cứu sách hướng sách Tiếng Việt lớp 2 để tìm hiểu nội dung cấu trúc của chương trình, tìm hiểu việc học của các em, tìm hiểu các tài liệu hướng dẫn của ngành, nghiên cứu rút kinh nghiệm qua từng tiết dự giờ. Nghiên cứu tài liệu có liên quan đến Tiếng Việt. Quan sát đội ngũ giáo viên thường xuyên sử dụng phương pháp gì? những điểm hợp lý và chưa hợp lý trong quá trình rèn đọc cho học sinh. Thường xuyên dự giờ tiết dạy của giáo viên khối 2 để rút kinh nghiệm trong quá trình dạy học, nhất là môn Tiếng Việt đọc. sinh thích học. Nhận thức rõ điều này, thấy rõ được những khó khăn cơ bản, tôi đã thực hiện một số biện pháp rèn kĩ đọc cho học sinh lớp 2 để cho học sinh đọc tốt. 2.2. Những mặt còn hạn chế: Đây là năm đầu tiên tôi được lãnh đạo nhà trường phân công dạy lớp 2, cũng là năm thứ 2 áp dụng chương trình giáo dục phổ thông mới nên đôi lúc tôi vẫn còn lúng túng trong việc xác định tiến trình và hình thức tổ chức dạy học phù hợp để giúp các em nắm bài hiệu quả. GV còn khó khăn trong vấn đề tiếng địa phương, chưa thành thạo, chưa hiểu biết nhiều về tiếng địa phương. Do tình hình dịch COVID-19, chương trình kế hoạch dạy học môn Tiếng Việt thời lượng các tiết trong tuần tăng nên khó khăn trong việc tiếp nhận, ghi nhớ kiến thức của HS. HS với trình độ nhận thức khác nhau nên việc tiếp thu kiến thức không đồng đều, GV rất vất vả khi truyền đạt kiến thức theo chương trình mới cho các em. Các em là người dân tộc thiểu số nên vốn từ còn hạn chế, môn Tiếng Việt (phần luyện viết đoạn nhiều, đa dạng nội dung) nên khó khăn cho HS trong việc viết đoạn văn, câu văn diễn đạt chưa rõ ràng. Thời gian thực hành, ôn luyện Tiếng Việt ít nhưng lượng bài tập khá nhiều. Việc đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động học và vui chơi, đồ dùng trực quan... chưa đầy đủ, việc đổi mới phương pháp dạy và ứng dụng công nghệ thông tin của bản thân còn hạn chế. Một số em học sinh trong lớp ý thức trong học tập chưa cao, phụ huynh các em đa số đều làm nghề nông, và là người dân tộc thiểu số, đi làm ăn xa chưa quan tâm nhiều đến việc chuẩn bị sách vở ở nhà và đồ dùng học tập nên các em hay quên ảnh hưởng nhiều đến việc học tập ở lớp. - Về phía học sinh Học sinh ở lứa tuổi tiểu học đặc biệt là đối với học sinh lớp 2 các em rất hiếu động trong tiết học, giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận tìm ra kiến thức mới còn giúp cho học sinh phát triển ngôn ngữ, các em rất thích những lời khen, khích lệ, từ đó các em rất say mê phát biểu, chính là góp phần giúp các em rèn kỹ năng nói tốt hơn. Đa số các em ngoan, có ý thức tự giác trong học tập đã hình thành từ năm học trước. 2.3.2. Nguyên nhân hạn chế: Đây là năm đầu tiên thực được lãnh đạo nhà trường phân công dạy lớp 2, cũng là năm thứ 2 áp dụng chương trình giáo dục mới nên tôi đôi lúc vẫn còn lúng túng trong việc xác định tiến trình và hình thức tổ chức dạy học phù hợp để giúp các em nắm bài hiệu quả. Chương trình mới do đó vẫn chưa được trang bị đồ dùng, cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế nên giáo viên phải thực sự linh động và nghiên cứu bài liên tục để tìm giải pháp khắc phục khó khăn. - Các em là người dân tộc thiểu số, kinh tế gia đình còn khó khăn nên việc học tập của các em chưa được chú trọng, một số phụ huynh chưa quan tâm đến việc học của con em mình. Trang thiết bị, đồ dùng học tập của các em còn hạn chế. Việc học ở nhà lại chưa có sự kèm cặp quan tâm của cha mẹ. Đa số phụ huynh là người địa phương nên còn nói tiếng địa phương là chủ yếu, phát âm chưa chuẩn . Đó là nguyên nhân làm cho đa số học sinh phát âm sai, ngọng. - Một số em gia đình đông con, thiếu sự quan tâm chăm sóc của cha mẹ. Nhiều gia đình bố mẹ đi làm ăn xa phải ở nhà với ông bà khó có điều kiện quan tâm nhắc nhở các em việc học ở nhà đến việc học tập của học sinh, đều trông chờ vào giáo viên. - Các em chưa tự tin, mạnh dạn trong trình bày những ý kiến của mình. Ngược lại trốn tránh mặc cảm, nhút nhát, sợ sệt. có ý thức thực hiện trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, xã hội và môi trường xung quanh. Giúp học sinh bước đầu hình thành các năng lực chung, phát triển năng lực ngôn ngữ ở tất cả các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe với mức độ căn bản: đọc đúng, trôi chảy văn bản; hiểu được nội dung, thông tin chính của văn bản; liên hệ, so sánh ngoài văn bản; viết đúng chính tả, ngữ pháp; viết được một số câu, đoạn, bài văn ngắn (chủ yếu là bài văn kể và tả); phát biểu rõ ràng; nghe hiểu ý kiến người nói. Phát triển năng lực văn học với yêu cầu phân biệt được thơ và truyện, biết cách đọc thơ và truyện; nhận biết được vẻ đẹp của ngôn từ nghệ thuật; có trí tưởng tượng, hiểu và biết xúc động trước cái đẹp, cái thiện của con người và thế giới xung quanh được thể hiện trong các văn bản văn học. 1.2.2 Yêu cầu cần đạt về nội dung đọc trong môn Tiếng Việt lớp 2 Theo quan điểm xây dựng chương trình giáo dục phổ thông 2018, dựa vào mục tiêu về phẩm chất và năng lực ở môn Tiếng Việt lớp 2 để đưa đưa ra yêu cầu Yêu cầu cần đạt Nội dung ĐỌC KIẾN THỨC TIẾNG VIỆT KĨ THUẬT ĐỌC 1. Bảng chữ cái tiếng Việt, sự khác - Đọc đúng các tiếng . nhau giữa tên chữ cái (a, bê, xê,...) và - Thuộc bảng chữ cái Tiếng Việt; biết phân âm (a, bờ, cờ,...) biệt tên chữ cái (a, bê, xê,...) và âm (a, bờ, 2. Vốn từ theo chủ điểm cờ,...) mà chữ cái và con chữ biểu hiện. - Đọc đúng và phát âm rõ ràng các đoạn văn, 3.1.Từ chỉ sự vật, hoạt động, tính chất câu chuyện, bài thơ, văn bản thông tin ngắn. 3.2.Công dụng của dấu chấm, dấu Tốc độ đọc khoảng 60 - 70 tiếng trong 1 phút. Biết ngắt hơi ở chỗ có dấu câu, chỗ ngắt nhịp chấm hỏi, dấu chấm than: đánh dấu thơ. kết thúc câu; dấu phẩy: tách các bộ phận đồng chức trong câu - Bước đầu phân biệt được lời nhân vật 4.1.Hội thoại: lắng nghe, nói theo trong đối thoại và lời người kể chuyện để lượt lời đọc với ngữ điệu phù hợp. 4.2.Đoạn văn - Biết nêu và trả lời được câu hỏi về các chi tiết- Danh sách học sinh; mục lục sách; nổi bật của văn bản như: Ai? Cái gì? Làm gì? thời khoá biểu; thời gian biểu Độ dài Khi nào? Ở đâu? Như thế nào? Vì sao? của văn bản: khoảng 110 - 140 chữ - Dựa vào gợi ý, trả lời được: Văn bản viết về - 2. Gợi ý chọn văn bản: xem danh cái gì và có những thông tin nào đáng chú ý mục gợi ý. dựa vào gợi ý. Đọc hiểu hình thức - Nhận biết được một số loại văn bản thông tin đơn giản, thông dụng qua đặc điểm của văn bản: mục lục sách, danh sách học sinh, thời khoá biểu, thời gian biểu, văn bản giới thiệu loài vật, đồ vật hoặc văn bản hướng dẫn thực hiện một hoạt động. Nhận biết được trình tự các sự việc, hiện tượng nêu trong văn bản. Liên hệ, so sánh, kết nối - Nêu được các thông tin bô ích đối với bản thân từ văn bản. - Nhận biết được thông tin cơ bản của văn bản thê hiện qua nhan đề, hình ảnh minh hoạ và chú thích hình ảnh. Đọc mở rộng Trong 1 năm học, đọc tối thiêu 18 văn bản thông tin có kiêu văn bản và độ dài tương đương với các văn bản đã học. - Phương pháp trao đổi kinh nghiệm. - Phương pháp thực nghiệm sư phạm. 2.2. Giải pháp thực hiện: Qua quá trình nghiên cứu, dạy học tôi áp dụng một số biện pháp sau: Biện pháp 1. Rèn cho học sinh thói quen chuẩn bị trước bài tập đọc. Để giúp các em nắm được kĩ năng đọc đúng, lưu loát,... tôi hướng dẫn học sinh cách chuẩn bị bài ở nhà. Cụ thể: Đọc trước bài ở nhà nhiều lần, có đọc trước bài ở nhà học sinh mới biết được từ nào khó đọc, hay đọc sai để đến lớp nghe giáo viên hướng dẫn sửa chữa. Việc chuẩn bị bài cần diễn ra hàng ngày, thường xuyên có sự nhắc nhở, động viên của giáo viên và phụ huynh để các con tạo thành thói quen. (Hình ảnh học sinh đọc bài ở nhà) (Ảnh về cây xấu hổ; tranh trong sách Tiếng Việt lớp 2 Bộ kết nổi tri thức) ( Cây sấu hổ bằng vật thật) Bên cạnh sử dụng tranh ảnh phục vụ cho tiết học sinh động, tôi còn sử dụng bảng phụ viết sẵn câu, từ cần luyện đọc đúng cho học sinh. Ví dụ: Trong bài “Cây xấu hổ” tôi cần luyện đọc ngắt nghỉ và nhấn giọng đúng các từ, cụm từ thì tôi sẽ viết sẵn bảng phụ nội dung: Thì ra, vừa mới có một con chim xanh biếc, toàn thân lóng lánh như tự tỏa sáng / không biết từ đâu bay giọng đúng các từ, cụm từ thì tôi sẽ viết sẵn bảng phụ nội dung: Chim cú mèo chập tối đứng trong hốc cây/ rúc cú cú/ cũng làm việc có ích cho đồng ruộng.// Ví dụ: Trong bài “Cây xấu hổ” tôi cần luyện đọc ngắt nghỉ và nhấn giọng đúng các từ, cụm từ thì tôi sẽ viết sẵn bảng phụ nội dung: Thì ra, vừa mới có một con chim xanh biếc, toàn thân lóng lánh như tự tỏa sáng / không biết từ đâu bay tới. - Luyện đọc hiểu: Khi học sinh đọc thành tiếng đã thành thạo, lưu loát thì khả năng khi nhớ bài của các em sẽ nâng cao lên. Tôi sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở để dẫn dắt học sinh vào việc tìm hiểu bài. - Giáo viên chữa lỗi phát âm chưa đúng thanh điệu cho học sinh: Trong lớp tôi các em là người đồng bào nên thường phát âm chưa đúng ở các tiếng chứa dấu thanh, có một số em tự thêm bớt dấu thanh. Tôi hướng dẫn các em cách phát âm đúng, từ đó các em đọc theo và giáo viên uốn nắn sửa chữa kịp thời. Giáo viên đưa ra một số tiếng, từ học sinh đọc không đúng và nêu tác hại khi phát âm không đúng thì người nghe sẽ hiểu nghĩa khác đi rồi yêu cầu học sinh luyện đọc đúng với nhiều hình thức: cá nhân, nhóm, đôi bạn đọc cho nhau nghe, đọc theo tổ... Biện pháp 4. Sử dụng phương pháp dạy học tích cực - Phương pháp dạy học phân hóa đối tượng Đối với từng nhóm học sinh, giáo viên cần đưa ra các yêu cầu cần đạt về mức độ đọc khác nhau. Đối với nhóm học sinh đọc trơn đã tốt và lưu loát thì GV nâng cao yêu cầu cần đạt bằng cách đẩy nhanh tốc độ đọc và đọc diễn cảm. Đối với học sinh đọc chậm, còn đánh vần và phát âm chưa chuẩn, giáo viên khuyến khích học sinh luyện đọc trơn, to, rõ ràng. Trong tiết học các câu hỏi đưa ra cần ngắn ngọn, dễ hiểu, sát với nội dung bài phù hợp với nhóm đối tượng học sinh để học sinh có thế trả lời và nắm bài được tốt.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_ren_ki_nang_doc_cho_h.docx