Sáng kiến kinh nghiệm Một vài giải pháp giúp học sinh Lớp 2 học tốt giải toán có lời văn
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một vài giải pháp giúp học sinh Lớp 2 học tốt giải toán có lời văn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một vài giải pháp giúp học sinh Lớp 2 học tốt giải toán có lời văn

Phần I. ĐẶT VẤN ĐỀ Lý do chọn đề tài : Ở bậc Tiểu học, cùng với các môn học khác, môn Toán có vị trí rất quan trọng. Toán là công cụ rất cần thiết để học các môn học khác và để nhận thức thế giới xung quanh. Môn Toán giúp cho học sinh phát triển trí thông minh, tư duy độc lập, linh hoạt sáng tạo trong việc hình thành và rèn luyện nề nếp phong cách, tác phong làm việc, góp phần giáo dục ý chí và những đức tính tốt như : Cần cù, nhẫn nại, ý thức vượt khó khăn. Chính vì lẽ đó ,đòi hỏi người giáo viên chúng ta phải đổi mới phương pháp và có sự đầu tư thật tốt nhằm nâng cao chất lượng dạy và học các môn nói chung cũng như môn Toán nói riêng. Đặc biệt cần lưu ý đến cách dạy giải Toán có lời văn ở lớp 2. Toán có lời văn khó là phải chỉ ra các mối quan hệ, các yếu tố chứa trong bài toán và nêu ra phép tính thích hợp để tìm ra đáp số bài toán. Do vậy tôi xác định việc dạy “Giải Toán có lời văn” ở lớp 2 là một dạng toán rất quan trọng và cần thiết. Nên tôi chọn đề tài: “Một vài giải pháp giúp học sinh lớp 2 học tốt giải toán có lời văn.” Phần II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ: I. Thực trạng - nguyên nhân : 1. Thực trạng : - Trường Tiểu học I Sông Đốc thuộc huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Là một vùng sâu, vùng xa, nên còn rất nhiều khó khăn. Về cơ sở vật chất của nhà trường nghèo nàn, điều kiện dạy và học còn nhiều thiếu thốn. - Hoàn cảnh gia đình của các em đa số là làm mướn, nghề biển. Cho nên phụ huynh ít quan tâm đến việc học của con em mình, họ cho rằng việc học tập của con em là do nhà trường, thầy cô chịu trách nhiệm. - Riêng đối với lớp 2E tôi chủ nhiệm năm học này gồm 27 học sinh. Cha mẹ các em chưa quan tâm đúng mức việc học hành của con em mình, nên học sinh của lớp tôi còn yếu về môn Toán, cụ thể là giải toán có lời văn. Kết quả cụ Học sinh Sĩ số Giỏi Khá Trung bình Yếu HS cả lớp 27 7 25,9% 5 18,5% 12 44,4% 3 11,2% thể như sau : 2. Nguyên nhân : a. Về phía giáo viên : - Một số giáo viên chưa chú trọng đến việc nghiên cứu nội dung bài dạy nên việc vận dụng phương pháp còn lúng túng, chưa phát huy tính tích cực chủ 1 - Dựa vào đặc thù tâm lý học sinh mau chán và tùy theo yêu cầu nội dung từng bài , tôi luôn thay đổi không khí tiết học bằng những phương pháp, hình thức tổ chức khác nhau cho tiết học sôi nổi, tạo ra sự hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các đối tượng học sinh như: làm việc độc lập từng cá nhân trên bảng con ,chơi tiếp sức giữa các tổ trên bảng lớn của lớp ,thi đua làm nhanh giữa các nhóm ở bảng học nhóm,cho học sinh độc lập suy nghĩ làm bài vào vở có sự trợ giúp của giáo viên đối với học sinh trung bình - yếu. - Chấm trả bài thường xuyên để nhận ra sự tiến bộ của học sinh, biểu dương những học sinh đã làm tốt, khích lệ học sinh còn thụ động, rụt rè, chưa mạnh dạn tham gia vào giờ học. - Gặp gỡ phụ huynh học sinh, nắm bắt hoàn cảnh, trình độ của từng học sinh. 1.2. Về phía học sinh: - Học sinh phải thực hiện đầy đủ các công việc khi giáo viên giao. - Phải có đủ sách vở, đồ dùng học tập - Luôn có ý thức tích cực, tự giác trong học tập. - Trước khi làm bài tập cần phải đọc kỹ đề, xác định được “cái phải tìm”, “Cái đã cho” trong mỗi bài toán, mối quan hệ giữa các đại lượng có trong bài toán. - Học sinh tự giải các bài toán đơn điển hình thực hiện bằng phép cộng hoặc trừ - Biết trình bày bài giải đầy đủ gồm câu lời giải có phép tính tương ứng và đáp số được viết đúng như quy định. 1.3. Về phía phụ huynh: - Luôn nhắc nhở, đôn đốc và thường xuyên kiểm tra bài làm ở nhà của học sinh. - Phải có sự liên hệ chặt chẽ với giáo viên, tìm hiểu cách hướng dẫn học sinh học bài từ phía giáo viên để giúp đỡ, kèm cặp con em mình. 2. Tổ chức thực hiện: 2.1. Nắm chương trình: Nắm chương trình là một việc làm cần thiết đối với giáo viên trực tiếp giảng dạy. Giải toán có lời văn ở lớp 2 bao gồm: a. Học sinh biết giải toán và trình bày bài giải các bài toán giải bằng một bước tính cộng, trừ. Trong đó có: - Củng cố bài toán về "thêm, bớt". . . ở lớp 1. - Bài toán về "nhiều hơn", "ít hơn" một số đơn vị - Bài toán có nội dung hình học ( Tính độ dài, tính chu vi các hình ) 3 - Bước 4: Trình bày bài giải - Bước 5: Kiểm tra lại bài giải a. Tìm hiểu đề toán: Để hiểu được nội dung bài toán, yêu cầu học sinh tự đọc, tri giác nhận biết đề toán. Tôi tổ chức cho các em đọc kĩ đề toán, hiểu rõ một số từ khóa quan trọng: Nhiều hơn, ít hơn, . . . Sau khi học sinh đã nhận dạng được bài toán, tôi yêu cầu học thảo luận theo cặp hoặc nhóm 3 tìm cái đã cho. Ví dụ: Bài 4 trang 31 SGK Tòa nhà thứ nhất có 16 tầng, tòa nhà thứ có ít hơn tòa nhà thứ nhất 4 tầng. Hỏi tòa nhà thứ hai có bao nhiêu tầng? ● Cái đã cho: Tòa nhà thứ nhất có 16 tầng, tòa nhà thứ hai ít hơn tòa nhà thứ nhất 4 tầng. ● Cái cần tìm: Tòa nhà thứ hai có bao nhiêu tầng? Tuy nhiên trong quá trình giải toán không phải tất cả đề bài đều cho biết cái đã cho trước và cái cần tìm sau mà đôi khi ngược lại: Đưa cái cần tìm trước rồi mới biết cái đã cho. Ví dụ: Bài 3 trang 153 SGK Tính chu vi hình tam giác có độ dài các cạnh là: 24mm, 16mm và 28mm? ● Cái cần tìm: Tính chu vi hình tam giác. ● Cái đã cho độ dài các cạnh là: 24mm, 16mm, 28mm b. Tóm tắt bài giải: Mỗi bài toán có các cách tóm tắt khác nhau, tuy nhiên các em cần lựa chọn cách tóm tắt sao cho phù hợp từng bài để dễ hiểu, đơn giản và ngắn gọn nhất. Có những bài toán nên tóm tắt bằng lời song cũng có những bài toán nên tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng ( nên dùng sơ đồ đoạn thẳng để biểu thị trực quan khái niệm "ít hơn", "nhiều hơn" ) Ví dụ: * Tóm tắt bằng lời: + Bài 3 trang 96 Mỗi xe đạp có 2 bánh xe. Hỏi 8 xe đạp có bao nhiêu bánh xe? 1 xe đạp: 2 bánh 8 xe đạp: . . . bánh? 5 Sau đó học sinh tiếp tục nêu hoặc ghi phép tính ra nháp ( 35 - 10 = 25 ). d. Trình bày bài giải: Về trình bày bài giải, học sinh viết được câu lời giải và phép tính tương ứng. Giáo viên kiên trì để hcoj sinh tự diễn đạt câu trả lời bằng lời, sau đó viết câu lời giải. Lúc đầu học sinh có lúng túng giáo viên nên chấp nhận các diễn đạt tuy có "vụn về" nhưng đúng ý là được, cái khó nhất của bài giải toán cóa lời văn ở lớp 2 chính là trình bày câu lời giải, do đó giáo viên tập cho học sinh diễn đạt câu lời giải theo nhiều cách khác nhau, không vội vàng mà làm thay cho học sinh. Tôi hướng dẫn học sinh diễn đạt câu lời giải bàng các cách sau: Ví dụ: Bài 3 trang 30 SGK Lớp 2A có 15 học sinh gái, số học sinh trai ít hơn số học sinh gái 3 bạn. Hỏi lớp 2A có bao nhiêu số học sinh trai? - Cách 1: Dựa vào câu hỏi của bài toán bỏ bớt từ "Hỏi" ở đầu câu và "Bao nhiêu học sinh trai" ở cuối câu rồi thêm từ "Là" để có câu lời giải: "Lớp 2A có là".( đối với học sinh yếu kém ) - Cách 2: Dựa vào câu hỏi của bài toán bỏ từ "Hỏi" và thay từ "Bao nhiêu" bằng từ "Số" rồi thêm từ "Là" vào cuối câu, để có câu lời giải: "Lớp 2A có số học sinh trai là". - Cách 3: Cũng như trên dựa vào các câu hỏi của bài toán đưa từ "Học sinh trai" ở cuối câu hỏi lên đầu thay thế cho từ "Hỏi" và thêm từ "Số" ở đầu câu, bỏ từ "Bao nhiêu", rồi thêm từ "Là" ở cuối câu để có: "Số học sinh trai lớp 2A có là". Tôi vẫn khuyến khích học sinh trình bày câu lời giải đầy đủ và hoàn chỉnh như cách 2 và cách 3. Sau đó cho học sinh yếu kém nhắc lại. Từ đó khắc sâu và nhấn mạnh cho học sinh hiểu muốn tìm được câu lời giải đúng với yêu cầu của bài toán phải dựa vào cái cần tìm ( đây cũng chính là câu hỏi của bài toán ) Tuy nhiên đối với bài toán tính độ dài đoạn thẳng, đoạn dây, đường gấp khúc... có số đo đại lượng như: km, m, dm, mm, . . . giáo viên cần phân biệt một cách chính xác các khái niệm như: "Đại lượng", "Số đo của một đại lượng" để giúp học sinh tránh những sai lầm đồng nhất "Đoạn thẳng", với "Độ dài đoạn thẳng" hay "Số đo đoạn thẳng" Ví dụ: Bài 4 trang 25 SGK Đọan thẳng AB dài 10cm, đoạn thẳng CD dài hơn đoạn thẳng AB 2cm. Hỏi đoạn thẳng CD dài bao nhiêu cm? Học sinh không nói câu lời giải: "Số xăng-ti-mét đoạn thẳng CD dài là" mà phải nói chính xác là: "Độ dài đoạn thẳng CD là". e. Kiểm tra lại bài giải: 7 III. Phạm vi áp dụng đề tài: - Đề tài này đã áp dụng từ đầu năm 2010 - 2011 cho học sinh lớp 2. Qua kiểm tra đánh giá, lãnh đạo nhà trường đồng ý cho triển khai áp dụng trong toàn trường và đạt kết quả tốt trong năm học vừa qua. - Mặc dù đã cố gắng nhưng trong quá trình nghiên cứu và thực hiện không khỏi thiếu sót, mong sự góp ý của các cấp lãnh đạo và đồng nghiệp để đề tài này hoàn thiện hơn, góp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy môn toán có lời văn ở lớp 2 nói riêng và cấp tiểu học nói chung. Tôi chân thành cảm ơn. Sông Đốc, ngày 15tháng 11năm 2011 Người thực hiện Trần Thị Cúc 9 Xếp loại chung: Ngày . . . tháng . . . năm 20. . . Trưởng phòng 11
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_vai_giai_phap_giup_hoc_sinh_lop_2.doc