Sáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm giúp học sinh Lớp 2 giải toán có lời văn
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm giúp học sinh Lớp 2 giải toán có lời văn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm giúp học sinh Lớp 2 giải toán có lời văn

Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn - Lớp 2 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN HỌC SINH GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN - LỚP 2 - LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN : Học sinh tiểu học - THỜI GIAN ÁP DỤNG SÁNG KIẾN : Năm học 2013 - 2014 - TÁC GIẢ : Vũ Thị Quý - NĂM SINH :1973 - NƠI THƯỜNG TRÚ : Xuân Đài – Xuân Trường – Nam Định - TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN : Cao Đẳng Sư Phạm - CHỨC VỤ CÔNG TÁC : Giáo viên - CÔNG TÁC CHUYÊN MÔN ĐƯỢC GIAO : Chủ nhiệm – Giảng dạy lớp 2A - NƠI LÀM VIỆC : Trường tiểu học A Xuân Phú - ĐỊA CHỈ LIÊN HỆ : Trường tiểu học A Xuân Phú - ĐIỆN THOẠI : - ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN : Lớp 2A - Trường tiểu học A Xuân Phú 1 Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn - Lớp 2 học sinh đã được yêu cầu viết câu lời giải, đây quả là một bước nhảy vọt khá lớn trong chương trình toán. Nhưng nếu như nắm bắt được cách giải toán ngay từ lớp 1, 2 thì đến các lớp trên các em dễ dàng tiếp thu, nắm bắt và gọt giũa, tôi luyện để trang bị thêm vào hành trang kiến thức của mình để tiếp tục học tốt ở các lớp sau. b. Cơ sở thực tiễn. Ta thấy rằng, giải toán ở tiểu học trước hết là giúp các em luyện tập, vận dụng kiến thức, các thao tác thực hành vào thực tiễn. Qua đó, từng bước giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận lôgíc. Thông qua giải toán mà học sinh rèn luyện đượcphong cách của người lao động mới : Làm việc có ý thức, có kế hoạch, sáng tạo và hăng say, miệt mài trong công việc. Thực tế qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy ở khối lớp 2, tôi nhận thấyhọc sinh khi giải các bài toán có lời văn thường rất chậm so với các dạng bài tập khác. Các em thường lúng túng khi đặt câu lời giải cho phép tính, có nhiều em làm phép tính chính xác và nhanh chóng nhưng không làm sao tìm được lời giải đúng hoặc đặt lời giải không phù hợp với đề toán đặt ra. Chính vì thế nhiều khi dạy học sinh đặt câu lời giải còn vất vả hơn nhiều so với dạy trẻ thực hiện các phép tính ấy để tìm ra đáp số. Việc dạy giải toán có lời văn là một khó khăn lớn đối với mỗi giáo viên trực tiếp giảng dạy ở lớp 2 nhất là những tuần đầu dạy toán có lời văn. Ngay ở việc giúp các em đọc đề, tìm hiểu đề Một số em mới chỉ đọc được đề toán chứ chưa hiểu được đề, chưa trả lời các câu hỏi mà giáo viên nêu: Bài toán cho biết gì ?...Đến khi giải toán thì đặt câu lời giải chưa đúng, chưa hay hoặc không có câu lời giảiNhững nguyên nhân trên không thể đổ lỗi về phía học sinh 100% được mà một phần lớn đó chính là các phương pháp, cách áp dụng, truyền đạt của những người thầy. Giải toán giúp học sinh hình thành, củng cố vận dụng kiến thức, kỹ năng về Toán. Đồng thời qua giải toán, giáo viên dễ dàng phát hiện những ưu điểm hoặc những thiếu sót trong kiến thức, kỹ năng của học sinh, để giúp các em phát huy ưu điểm khắc phục thiếu sót. Việc giải toán còn có tác dụng giáo dục các em ý chí vượt khó, đức tính cẩn thận, chu đáo, làm việc có kế hoạch. Thói quen tự kiểm tra công việc của mình, có óc độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo, phát triển tư duy. Qua nhiều năm thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học và việc thay sách giáo khoa lớp 2, tôi đã thấy được ưu điểm khi dạy môn Toán dạng bài : giải toán có lời văn, học sinh đọc được đề bài, tóm tắt được bài toán dễ dàng và tự phát huy tính tích cực, tìm tòi ngay đáp số bài toán và biết trình bày bài giải một cách hoàn chỉnh. Mặt khác, nhằm nâng cao chất lượng đại trà, tỷ lệ HS khá giỏi làm nền tảng vững chắc cho HS học lên các lớp trên. Từng bước kiện toàn phương pháp dạy giải toán có lời văn đạt được hiệu quả cao hơn. Vì vậy, tôi chọn đề tài “Phương pháp dạy giải Toán có lời văn lớp 2”. Đây cũng là lý do mà tôi chọn đề tài này, mong tìm ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2 nói riêng và trong môn toán 2 nói chung. Để từ đó, các em có thể thành thạo hơn với những bài toán có lời văn khó và phức tạp ở các lớp trên. 3 Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn - Lớp 2 Các em ở rải rác khắp các xóm trong xã, có nhiều học sinh ở xa trường nên việc đi lại của các em gặp rất nhiều khó khăn điều đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập của các em. - Qua thực tế giảng dạy và thảo luận cùng đồng nghiệp, tôi nhận thấy : + Việc đọc đề, tìm hiểu đề đang còn nhiều khó khăn đối với học sinh lớp 2. Vì kĩ năng đọc thành thạo của các em chưa cao, nên các em đọc được đề toán và hiểu đề còn thụ động, chậm chạp + Thực tế trong một tiết dạy 40 phút, thời gian dạy kiến thức mới mất nhiều - phần bài tập hầu hết là ở cuối bài nên thời gian để luyện nêu đề, nêu câu trả lời không được nhiều. 2. Kết quả của thực trạng ban đầu. Tôi đã khảo sát kĩ năng giải toán của 29 học sinh lớp 2A và thu được kết quả như sau: Sĩ số Giải thành thạo Kĩ năng giải chậm Chưa nắm được cách giải 29 em 10 em = 34,5% 7 em = 24,1% 12 em = 41,4% Từ thực trạng trên, để công việc đạt hiệu quả tốt hơn, giúp các em học sinh có hứng thú trong học tập, nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, tôi đã mạnh dạn cải tiến nội dung, phương pháp giảng dạy khi hướng dẫn học sinh giải toán như sau : III. Các giải pháp: 1. Họp phụ huynh – Thống nhất biện pháp giáo dục. Chúng ta đều biết học sinh lớp 2 đến trường còn phụ thuộc hoàn toàn vào sự quan tâm, nhắc nhở của cha mẹ và thầy cô. Các em chưa có ý thức tự giác học tập, chính vì vậy giáo dục ý thức tích cực học tập cho các em là một yếu tố không kém phần quan trọng giúp các em học tốt hơn. Trong một lớp học, lực học của các em không đồng đều, ý thức học của nhiều em chưa cao. Để thực hiện tốt cuộc vận động “Hai không” của ngành giáo dục và giúp cho phụ huynh có biện pháp phù hợp trong việc giáo dục con cái, tôi đã mạnh dạn trao đổi với phụ huynh học sinh về chỉ tiêu phấn đấu của lớp và những yêu cầu cần thiết giúp các em học tập như: Mua sắm đầy đủ sách vở, đồ dùng – cách hướng dẫn các em tự học ở nhà, đặc biệt nhất là đối với các ông bố vào buổi tối cố gắng bớt đi một chút thời gian chuyện trò với bạn bè, tắt (vặn nhỏ đài, ti vi) dành thời gian nhắc nhở, quan tâm cho các em học tập.Rất mừng là đa số phụ huynh đều nhiệt liệt hoan nghênh biện pháp trên vì lâu nay các phụ huynh còn đang vướng mắc nhiều về cách dạy học cho các em - Sách giáo khoa mới còn nhiều kí hiệu, các lệnh, yêu cầu của sách, phụ huynh chưa rõ yêu cầu bài tập; nhiều gia đình người mẹ bận việc mà người bố ngại hướng dẫn con nên việc học của con 5 Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn - Lớp 2 một số em có lực học khá. Mặc dù giáo viên đã hướng dẫn các em nêu đề toán, tìm hiểu đề và gợi ý nêu miệng lời giải nhưng cách trình bày, sự trau truốt lời giải của các em chưa được thành thạo. Hiểu được những thiếu sót đó của các em, ở những tiết toán có bài toán giải tôi thường dành nhiều thời gian hơn để hướng dẫn kĩ và kết hợp trình bày mẫu nhiều bài giúp các em ghi nhớ và hình thành kĩ năng. 3. Các ví dụ minh họa. a. Dạng đề cho sẵn : Ví dụ 1 : Một cửa hàng buổi sáng bán được 12 xe đạp, buổi chiều bán được 20 xe đạp. Hỏi hai buổi cửa hàng bán được tất cả bao nhiêu xe đạp ? (Sách giáo khoa Toán 2, trang 5). - Bước 1 : Học sinh đọc đề bài, xác định cái đã cho và cái cần tìm (Đề cho biết gì ? Hỏi gì ? - Bước 2 : Lập kế hoạch giải. + Muốn biết hai buổi cửa hàng bán được bao nhiêu xe đạp em làm thế nào ? + Tìm lời giải (dựa vào câu hỏi của bài toán), đơn vị. - Bước 3 : Trình bày bài giải. Bài giải Số xe đạp hai buổi cửa hàng bán được là : 12 + 20 = 32 (xe đạp) Đáp số : 32 xe đạp. - Bước 4 : Kiểm tra đánh giá cách giải. + Xem lại dữ kiện và yêu cầu của bài toán. + Lấy kết quả làm điều kiện để so sánh (32 lớn hơn các số đã cho là 12 và 20 có thể là hướng đúng, vì tất cả nghĩa là phải cộng lại ). + Tìm câu trả lời khác. *Lưu ý : Cần tóm tắt đề theo 1 hoặc 2 dạng sau : Dạng 1 Buổi sáng : 12 xe đạp Buổi chiều : 20 xe đạp Cả hai buổi : ? xe đạp Dạng 2 HD cho HS vẽ sơ đồ 12 xe đạp Lớp 2A: ? Xe đạp 20 xe đạp Lớp 2B: b. Dạng đề dựa vào tóm tắt. Ví dụ 2 : Giải toán theo tóm tắt sau : 7 Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn - Lớp 2 - Tiếp đó, học sinh được làm quen với việc tóm tắt rồi nêu đề toán bằng lời sau đó nêu cách giải rồi tự giải. Ở dạng bài này, giáo viên cũng cần cho học sinh luyện nêu miệng đề toán nhiều lần để các em ghi nhớ một bài toán. Ví dụ : Bài tập 2 (trang 25 - SGK toán 2) An có : 11 bưu ảnh. Bình nhiều hơn An : 3 bưu ảnh. Bình có : ?bưu ảnh. - Tôi cho học sinh đọc thầm, đọc miệng tóm tắt rồi nêu đề toán bằng lời theo yêu cầu. Học sinh: An có 11 bưu ảnh. Bình có số bưu ảnh nhiều hơn số bưu ảnh của An là 3 cái. Hỏi Bình có tất cả có bao nhiêu cái bưu ảnh? Sau đó cho các em luyện cách trả lời miệng: Số bưu ảnh của Bình có là: 11 + 3 = 14 (bưu ảnh) Rồi tự trình bày bài giải: Bài giải Số bưu ảnh của Bình có là: 11 + 3 = 14 (bưu ảnh) Đáp số: 14 bưu ảnh. 3. Áp dụng qua các tiết dạy. Khác với lớp 2 chương trình CCGD, chương trình Toán lớp 2 mới thường được cho dưới các dạng sau: + Lớp 2A có 15 bạn gái, số học sinh trai của lớp ít hơn số học sinh gái 3 bạn. Hỏi lớp 2A có bao nhiêu học sinh trai? + Tháng trước tổ em được 16 điểm mười, tháng này tổ em được nhiều hơn tháng trước 5 điểm mười. Hỏi tháng này tổ em được bao nhiêu điểm mười?... Nhưng dù ở hình thức nào, dạng nào tôi cũng tập trung luyện cho học sinh các kĩ năng: Tìm hiểu nội dung bài toán, tìm cách giải bài toán và kĩ năng trình bày bài giải, được tiến hành cụ thể qua các bước sau: Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán. Cần cho học sinh đọc kĩ đề toán giúp học sinh hiểu chắc chắn một số từ khoá quan trọng nói lên những tình huống toán học bị che lấp dưới cái vỏ ngôn từ thông thường như: “ít hơn”, “nhiều hơn”, “tất cả” Nếu trong bài toán có từ nào mà học sinh chưa hiểu rõ thì giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh hiểu được ý nghĩa và nội dung của từ đó ở trong bài toán đang làm, sau đó giúp học sinh tóm tắt đề toán bằng cách đăt câu hỏi đàm thoại : “Bài toán cho gì ? Bài toán hỏi gì ?” và dựa vào tóm tắt để nêu đề toán Đối với những học sinh kĩ năng đọc hiểu còn chậm, tôi dùng phương pháp giảng giải kèm theo các đồ vật, tranh minh hoạ để các em tìm hiểu, nhận xét nội dung, yêu cầu của đề toán. Qua đó học sinh hiểu được yêu cầu của bài toán và dựa vào câu hỏi của bài, các em nêu miệng câu lời giải, phép tính, đáp số của bài toán rồi cho các em tự trình bày bài giải vào vở bài tập. Bước 2 : Tìm cách giải bài toán. a. Chọn phép tính giải thích hợp : Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề toán để xác định cái đã cho và cái phải tìm cần giúp học sinh lựa chọn phép tính thích hợp : Chọn “phép cộng” nếu 9
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_kinh_nghiem_giup_hoc_sinh_lop_2.doc