Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh Lớp 2 học Tập làm văn

doc 57 trang sangkienhay 12/11/2023 3870
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh Lớp 2 học Tập làm văn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh Lớp 2 học Tập làm văn

Sáng kiến kinh nghiệm Hướng dẫn học sinh Lớp 2 học Tập làm văn
 Sáng kiến kinh nghiệm Nguyễn Thị Chúc Quỳnh
 Mở đầu
 Từ năm học 2003 – 2004 các em học sinh lớp 2 trên toàn quốc bắt đầu 
học môn tiếng Việt theo sách giáo khoa Tiếng Việt 2 (tập một, tập hai) của 
Chương trình Tiểu học mới.
 Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 gồm các bài học thuộc 6 phân môn. Trong 
các phân môn đó, Tập làm văn là phân môn có nhiều đổi mới về nội dung và 
phương pháp dạy học.
 Là một giáo viên dạy nhiều năm lớp 2, khi bắt tay vào dạy phân môn Tập 
làm văn cho học sinh, tôi thấy rất hứng thú và tôi quyết định đi sâu nghiên cứu 
phân môn này nhằm giúp các em học sinh lớp 2 học tốt hơn môn Tập làm văn.
 Bởi vì chúng ta dạy cho học sinh biết cách làm văn chính là dạy cho các 
em biết cách ứng xử các tình huống xảy ra trong cuộc sống. Vì lý do đó tôi đã 
nghiên cứu đề tài: “Hướng dẫn học sinh lớp 2 học Tập làm văn ”
 Chúng tôi thực sự mong muốn được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo 
để việc học phân môn Tập làm văn của học sinh lớp 2, đặc biệt là của học sinh 
tiểu học được phát triển không ngừng.
 Xin trân trọng cảm ơn!
 1 Sáng kiến kinh nghiệm Nguyễn Thị Chúc Quỳnh
các yếu tố cuả tình huống giao tiếp rất được quan tâm. Nếu như trong dạy câu, 
tình huống giao tiếp mới chỉ được chú ý một phần thì trong dạy Tập làm văn, 
tình huống giao tiếp được chú ý một cách toàn diện và đầy đủ hơn, các tình 
huống hiện ra cũng cụ thể và rõ ràng hơn. Nếu như trong dạy câu, ta có thể lướt 
nhanh qua những tình huống giao tiếp, thì ngược lại, trong làm văn không thể 
không đề cập tình huống. Bài văn viết ra bao giờ cũng hướng tới đối tượng 
người đọc, người nghe cụ thể với những nội dung và mục đích cụ thể. Không 
thể có một bài văn viết chung chung, không rõ đối tượng, không rõ nội dung và 
mục đích giao tiếp. Nếu như trong việc dạy câu, việc đánh giá câu đúng, câu sai 
đã vừa cần phải chú ý đến quy tắc ngôn ngữ, vừa cần phải chú ý đến quy tắc 
giao tiếp, thì ở bậc bài văn, bậc văn bản lại càng cần phải như thế. Lúc này, việc 
đánh giá toàn bộ chất lượng bài văn viết ra là ở chỗ có sự phù hợp với giao tiếp 
hay không, chứ không phải ở một vài điểm đúng sai mang tính chất bộ phận 
trong từ, trong câu. Những bài văn có sự phù hợp cao với đối tượng, nội dung và 
mục đích giao tiếp là những bài văn tốt.
 Bởi thế, việc dạy Tập làm văn cho học sinh cần phải chú ý tới việc dạy 
các em nói, viết đúng quy tắc giao tiếp, đúng nghi thức lời nói, nghĩa là phải 
chú ý đầy đủ tới những yếu tố ngoài ngôn ngữ nhưng lại để lại dấu ấn đậm nét 
trong ngôn ngữ.
3. Đối tượng nghiên cứu:
 Chương trỡnh và nội dung phõn mụn Tập làm văn lớp 2. 
 Học sinh lớp 2 núi chung, đặc biệt là học sinh lớp mỡnh giảng dạy.
4. Đối tượng khảo sỏt và đối tượng thực nghiệm:
 Học sinh lớp 2, đặc biệt là học sinh lớp 2A4, năm học 2011 – 2012 
trường Tiểu học Thanh Xuõn Trung – Thanh Xuõn – Hà Nội.
5. Cỏc phương phỏp nghiờn cứu:
 Khi thực hiện SKKN này, tụi đó sử dụng cỏc phương phỏp cơ bản sau:
 - Phương phỏp điều tra
 - Phương phỏp thống kờ
 - Phương phỏp phõn tớch
 - Phương phỏp so sỏnh
 - Phương phỏp thực nghiệm
 - Phương phỏp trắc nghiệm khỏch quan
6. Phạm vi và kế hoạch nghiờn cứu:
 Đề tài Hướng dẫn học sinh lớp 2 học Tập làm văn được tụi nghiờn cứu 
ngay từ khi vào năm học đầu 2011 – 2012 – khi tụi được phõn cụng giảng dạy 
lớp 2A4.
 3 Sáng kiến kinh nghiệm Nguyễn Thị Chúc Quỳnh
c, Nội dung phân môn Tập làm văn ở lớp 2:
 Nội dung các bài học về Tập làm văn ở lớp 2 giúp các em học sinh thực 
hành rèn luyện các kỹ năng nói, viết, nghe, phục vụ cho việc học tập và giao 
tiếp hằng ngày, cụ thể:
 * Thực hành về các nghi thức lời nói tối thiểu, như: chào hỏi; tự giới 
thiệu; cảm ơn; xin lỗi; khẳng định; phủ định; mời, nhờ , yêu cầu, đề nghị; chia 
buồn, an ủi; chia vui, khen ngợi; ngạc nhiên, thích thú; đáp lại lời chào, lời tự 
giới thiệu; đáp lời cảm ơn; đáp lời xin lỗi; đáp lời khẳng định; đáp lời phủ định; 
đáp lời đồng ý; ; đáp lời chia vui; đáp lời khen ngợi; ; đáp lời từ chối; đáp lời 
an ủi.
 * Thực hành về một số kỹ năng phục vụ học tập và đời sống hằng ngày, 
như: viết bản tự thuật ngắn, lập danh sách học sinh, tra mục lục sách, đọc thời 
khoá biểu, nhận và gọi điện thoại, viết nhắn tin, lập thời gian biểu, chép nội quy, 
đọc sổ liên lạc.
 * Thực hành rèn luyện về kỹ năng diễn đạt (nói, viết ), như: kể về người 
thân trong gia đình, về sự vật hay sự việc được chứng kiến; tả sơ lược về người, 
vật xung quanh theo gợi ý bằng tranh hoặc câu hỏi...
 * Thực hành rèn luyện về kỹ năng nghe: dựa vào câu hỏi gợi ý để kể lại 
hoặc nêu được ý chính của mẩu chuyện ngắn đã nghe.
 Như vậy, phần Tập làm văn trong SGK Tiếng Việt 2 không phải chỉ giúp 
học sinh nắm các nghi thức tối thiểu cuả lời nói và biết sử dụng các nghi thức 
đó trong những tình huống khác nhau, như nơi công cộng, trong trường học, ở 
gia đình với những đối tượng khác nhau, như bạn bè, thầy cô, bố mẹ, người xa 
lạ...mà còn là việc nắm các kỹ năng giao tiếp thông thường khác; tạo lập văn 
bản phục vụ đời sống hằng ngày; nói, viết những vấn đề theo chủ điểm quen 
thuộc.
 Trong từng bài học, để rèn những kỹ năng trên, các nhân tố ngoài ngôn 
ngữ bao giờ cũng được chú ý.
 Ví dụ: để luyện việc sử dụng đúng nghi thức lời nói (Tuần 29 Bài tập 1) 
sách đã ra một bài tập như sau:
 Có một người lạ đến nhà em gõ cửa và tự giới thiệu: “Chú là bạn bố 
cháu. Chú đến thăm bố mẹ cháu.” Nội dung cũng như mục đích giao tiếp hiện 
lên qua cách hỏi của bài tập bố mẹ có nhà hoặc bố mẹ không có nhà. Với những 
yếu tố ngoài ngôn ngữ như vậy đòi hỏi học sinh phải biết cân nhắc, lựa chọn 
trước khi nói những từ ngữ, những kiểu câu sao cho phù hợp. Việc lựa chọn lời 
nói trong từng tình huống giao tiếp như vậy không thể tuỳ tiện, hay chỉ bảo 
đảm đúng quy tắc ngữ pháp của ngôn ngữ.
 Với cách biên soạn này, giờ dạy Tập làm văn trở nên linh hoạt hơn, gắn 
với cuộc sống đời thường hơn và cũng vì thế giúp học sinh hứng thú trong giờ 
học, dễ dàng vượt qua những lực cản tâm lý vốn thường xuất hiện trong những 
giờ học tiếng nói chung, giờ học Tập làm văn nói riêng.
 5 Sáng kiến kinh nghiệm Nguyễn Thị Chúc Quỳnh
3. Quỏ trỡnh triển khai và thực hiện đề tài:
3.1. Nghiờn cứu kĩ nội dung chương trỡnh và phương phỏp dạy học cỏc bài 
cụ thể theo tuần học (chủ điểm, thể loại)
* Mỗi tiết học Tập làm văn trong tuần thường gồm 2, 3 bài tập; riêng các tuần 
Ôn tập giữa học kỳ và cuối học kỳ, nội dung thực hành về Tập làm văn được rải 
ra trong nhiều tiết ôn tập .
 ở từng bài tập, hướng dẫn học sinh thực hiện theo hai bước:
 - Bước 1:
 Chuẩn bị: Xác định yêu cầu của bài tập, tìm hiểu nội dung và cách làm 
bài, suy nghĩ để tìm từ, chọn ý, diễn đạt câu văn...
 -Bước 2:
 Làm bài: Thực hành nói hoặc viết theo yêu cầu của bài tập; có thể tham 
khảo các ví dụ trong sách giáo khoa để nói, viết theo cách của riêng mình.
* Hướng dẫn học sinh làm bài tập
 - Giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập ( bằng câu hỏi, lời giới 
thiệu, tranh ảnh... )
 - Giúp học sinh chữa một phần của bài tập làm mẫu ( một HS chữa mẫu 
trên bảng lớp hoặc cả lớp làm vào vở Tiếng Việt ) - HS thực hành.
 - HS làm bài vào vở Tiếng Việt. GV uốn nắn.
 - GV tổ chức cho HS trao đổi, nhận xết về kết quả, rút ra những điểm ghi 
nhớ về tri thức.
* Đánh giá kết quả thực hành, luyện tập ở lớp, hướng dẫn hoạt động tiếp nối (ở 
ngoài lớp, sau tiết học. )
 - Hướng dẫn HS nhận xét kết quả của bạn, tự đánh giá kết qủa của bản 
thân trong quá trình luyện tập trên lớp; nêu nhận xét chung, biểu dương những 
HS thực hiện tốt.
 - Khi tất cả các bài tập đã được chữa xong, GV có lời nhận xét chung, 
rút kinh nghiệm. Mỗi tiết Tập làm văn, GV nên chú ý đến một số em giỏi, một 
số em kém có tiến bộ để cho nội dung nhận xét không chung chung quá. GV 
không quên nhận xét về những yêu cầu tích hợp trong tiết học; kĩ năng nói, tư 
thế ngồi viết, cầm bút, chữ viết... và nhất là lưu ý, nhắc nhở HS thực hành 
những điều đã học được.
 - Nêu yêu cầu, hướng dẫn HS thực hiện những hoạt động tiếp nối nhằm 
củng cố kết qủa thực hành luyện tập ở lớp (Thực hành giao tiếp ngoài lớp học, 
sử dụng kỹ năng đã học vào thực tế cuộc sống...)
 7 Sáng kiến kinh nghiệm Nguyễn Thị Chúc Quỳnh
 - Chia vui: Chia sẻ niềm vui với người khác.
 - Khen hay chê là việc biểu lộ nhận xét tốt xấu của mình đối với một 
người, một vật, một việc nào đó. Khen là sự đánh giá tốt về ai đó, về cái gì, việc 
gì...mình thấy vừa ý, hài lòng.
 - Ngạc nhiên là phản ứng rất lấy làm lạ, cảm thấy điều trước mắt, điều 
diễn ra là hoàn toàn bất ngờ.
 - Thích thú là cảm giác hài lòng, vui vẻ, là việc cảm thấy một đòi hỏi nào 
đó của mình đã được đáp ứng.
 - Đồng ý là có cùng ý kiến như ý kiến đã nêu, tức cùng một ý kiến như 
nhau.
 Khi thực hành về các nghi thức lời nói tối thiểu phải chú ý cả cử chỉ, thái 
độ, tình cảm.
 * Khi chào hỏi hoặc tự giới thiệu: lời nói, giọng nói, vẻ mặt, ánh mắt, nụ 
cười...phải tuỳ từng đối tượng mình gặp gỡ và những điều này cũng chứa đựng 
nội dung tiếp xúc. Cách chào hỏi, cách xưng hô phải phù hợp với từng người, 
từng hoàn cảnh cụ thể. Lời chào hỏi cần tự nhiên, lịch sự, cử chỉ thân mật.
 + Khi chào hỏi người trên (bố, mẹ thầy ,cô...) em cần thể hiện thái độ 
như thế nào? Để thể hiện thái độ đó, em cần chú ý gì về: vẻ mặt, giọng nói, cử 
chỉ?
 + Khi chào hỏi bạn bè, em cần thể hiện thái độ gì đối với bạn?
 Ví dụ:
 Chào bạn khi gặp nhau ở trường: - Chào bạn!
 Hoặc: - Chào cậu!
 - Chào các bạn!
 - Chào An!
 *Lời cảm ơn hay xin lỗi khi nói phải chân thành, lịch sự, lễ phép và đi 
liền với cách biểu hiện, tình cảm, thái độ củả mình khiến mọi người thông cảm, 
bỏ qua cho lỗi của em.
 Em nhớ xác định rõ đối tượng cần cảm ơn:
 + Nếu là bạn bè (cùng lứa tuổi ), lời cảm ơn cần thể hiện thái độ chân 
thành, thân mật.
 Ví dụ: 
 Mình cảm ơn bạn.
 + Nếu là người trên (cao tuổi hơn ), lời cảm ơn cần thể hiện thái độ lễ 
phép, kính trọng.
 Ví dụ:
 Cháu cảm ơn bác ạ!
 + Nếu là người dưới (nhỏ tuổi hơn ), lời cảm ơn cần thể hiện thái độ chân 
thành, yêu mến.
 9 Sáng kiến kinh nghiệm Nguyễn Thị Chúc Quỳnh
 *Khi nói lời chia buồn, an ủi cần bày tỏ tình thương yêu, sự quan tâm, 
thông cảm với nhau.
 Chú ý giọng hỏi thăm phải nhẹ nhàng, tình cảm. Khi nói lời an uỉ với 
người trên, em cần tỏ thái độ ân cần nhưng lễ phép ( thể hiện qua giọng nói và 
cách xưng hô)
 Ví dụ: 
 Khi cây hoa do ông bà ( trồng ) bị chết. Em nói:
 - Bà ơi! Bà đừng buồn. Cháu sẽ cùng bà trồng lại cây khác, bà nhé!
Hoặc: - Bà đừng buồn, con sẽ nhờ bố kiếm cây khác trồng lại để bà vui.
 *Khi nói lời chia vui cần chú ý: người mình chia vui là ai? Chia vui về 
chuyện gì?Tình cảm, thái độ, cử chỉ khi nói phải như thế nào cho phù hợp?
 Chúng ta cần nói với thái độ chân thành, tự nhiên, vui vẻ nhằm thể hiện 
sự chia vui hay khâm phục, tự hào, phấn khởi.
 Ví dụ:
 Nói lời chúc mừng của em với chị Liên:
 - Em xin chúc mừng chị!
Hoặc: - Chúc chị học giỏi hơn nữa!
 - Chúc chị năm sau được giải cao hơn.
 - Chị học giỏi quá, em rất tự hào về chị.
 *Khi khen, trong câu thường dùng các từ rất, quá, thật làm sao, và khi 
viết dùng dấu chấm than ở cuối câu.
 Ví dụ:
 Bạn Nam học rất giỏi:
 - Bạn Nam học mới giỏi làm sao!
 - Bạn Nam học giỏi ghê!
 - Bạn Nam học giỏi thật!
 * Thể hiện sự ngạc nhiên, thích thú:giọng nói, vẻ mặt cần thể hiện sự 
ngạc nhiên, vui mừng, thích thú, nhấn giọng vào các từ thể hiện sự ngạc nhiên: 
Ôi! ồ! A! Ôi chao! ối! á!......và chú ý hơi lên cao giọng ở cuối câu nói.
 Ví dụ:
 Được bố tặng một cái vỏ ốc biển đẹp. Em nói:
 - Đây là món quà con rất thích, cảm ơn bố.
 - Sao cái vỏ ốc đẹp thế, lạ thế, con cảm ơn bố.
 - Cái vỏ ốc biển mới to và đẹp làm sao!
 - Con chưa bao giờ thấy một cái vỏ ốc đẹp đến thế.
 *Lời đồng ý hay lời từ chối phải phù hợp với người đưa ra đề nghị và 
phải phù hợp với hoàn cảnh cụ thể. Nói lời từ chối cần nhẹ nhàng, khéo léo cho 
khỏi mất lòng nhau. Nói lời đồng ý cần thể hiện sự sẵn sàng vui vẻ.
 11

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_huong_dan_hoc_sinh_lop_2_hoc_tap_lam_v.doc