Sáng kiến kinh nghiệm Phương pháp dạy học môn Mĩ thuật Lớp 2
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Phương pháp dạy học môn Mĩ thuật Lớp 2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Phương pháp dạy học môn Mĩ thuật Lớp 2

CHUYÊN ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN MĨ THUẬT LỚP 2 I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong chương trình giáo dục phổ thông 2018, Mĩ thuật là môn học thuộc lĩnh vực giáo dục nghệ thuật với hai mạch nội dung là mĩ thuật tạo hình và mĩ thuật ứng dụng, trong đó nền tảng kiến thức cơ bản dựa trên yếu tố và nguyên lý tạo hình. Môn mĩ thuật giúp học sinh biết cách sử dụng ngôn ngữ tạo hình thông qua hoạt động trải nghiệm để biểu đạt thái độ, cảm xúc, sự tưởng tượng và kiến thức của bản thân về thế giới xung quanh. Môn Mĩ thuật 2 đã được đổi mới cả về mục tiêu - nội dung - phương pháp - phương tiện- hình thức tổ chức dạy học lẫn cách đánh giá kết quả học tập của học sinh. Mục tiêu mà môn học hướng tới là: Trang bị cho học sinh những kiến thức, kĩ năng nền tảng cơ bản nhất của nghệ thuật tạo hình nói chung và mĩ thuật nói riêng làm cơ sở cho học sinh hình thành quan niệm và nhận thức riêng về các giá trị thẩm mĩ trong nghệ thuật và cuộc sống. Tạo cơ hội cho học sinh kết nối kiến thức bài học với thực tế cuộc sống để đáp ứng việc học đi đôi với hành. Khuyến khích học sinh sử dụng và phối hợp các loại vật liệu sẵn có ở địa phương để sáng tạo sản phẩm, tác phẩm mĩ thuật. Đồng thời, giúp học sinh nhận biết thêm vẻ đẹp của quê hương mình và giáo dục ý thức bảo về môi trường. Tích hợp giáo dục địa phương và các nghề thủ công, mĩ nghệ truyền thống vào bài học nhằm phát huy và giữ gìn bản sắc dân tộc. Tạo cơ hội tiếp cận và phát huy những thành tựu văn hóa, nghệ thuật đặc sắc của địa phương, bồi dưỡng tinh thần yêu quê hương đát nước ỏ mỗi học sinh. Để việc dạy học đạt được kết quả như mong muốn, giáo viên cần: Tạo điều kiện để học sinh học qua nhiều kênh; Chú ý đến phong cách học của từng học sinh; Kết hợp kiến thức của bản thân học sinh và chiến lược học tập; Xây dựng một môi trường học tập thân thiện, truyền cảm hứng cho học sinh. Sau một thời gian nghiên cứu và giảng dạy chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 với bộ sách “Chân trời sáng tạo” lớp 2. Tôi mạnh dạn xây dựng chuyên đề: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN MĨ THUẬT LỚP 2 để cùng trao đổi với đồng nghiệp và hy vọng góp một phần nhỏ đem lại kết quả khả quan cho học sinh. Kính mong nhận được sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến của BGH và đồng nghiệp để phương pháp dạy học mĩ thuật 2 được hoàn thiện hơn và đi vào thực tiễn. khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ và đặc biệt tạo hứng thú học tập tốt cho học sinh. b. Thuận lợi: Phòng GD&ĐT, nhà trường, Tổ chuyên môn đã quan tâm, chỉ đạo, tổ chức, xây dựng các chuyên đề để giáo viên có điều kiện giao lưu, chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. Giáo viên giảng dạy luôn nhiệt tình, có trách nhiệm, đã được tập huấn đầy đủ và đã nắm rõ nội dung chương trình, mục tiêu, cách xây dựng kế hoạch bài học theo chương trình GDPT mới 2018. Giáo viên biết vận dụng, sử dụng thiết bị dạy học, ứng dụng CNTT. Môn mĩ thuật là môn học nghệ thuật thu hút rất nhiều học sinh, hầu hết các em học sinh hào hứng với môn học. Tất cả mọi người đều hiểu đây là môn học nghệ thuật sáng tạo, vì vậy giáo viên, học sinh và phụ huynh luôn coi trọng đầu tư cho môn học. Qua đó các em thấy được Mĩ thuật là môn học bổ ích, lý thú và tươi vui, có tính giáo dục đạo đức, thẩm mĩ cao và là môn học bổ trợ tích cực cho những môn học khác Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học ngày càng được tăng cường nên cơ bản đáp ứng và phục vụ tốt cho việc dạy và học của giáo viên, học sinh c. Khó khăn: Năm học 2021-2022 là năm học đầu tiên thay sách lớp 2, việc giáo viên tập huấn chương trình mới thực tuyến và dạy trực tuyến nên việc tiếp thu và truyền đạt tới học sinh ít nhiều có ảnh hưởng tới kết quả. Vì vậy những khó khăn vướng mắc chưa được trao đổi, giao lưu, chia sẻ trực tiếp giữa các trường, giữa các đồng nghiệp cùng dạy lớp 2 để có những sự thống nhất chung. Do một số phụ huynh còn thiếu quan tâm tới con em, chưa coi trọng môn học,... gây cho các em chán nản, không tự tin khi học bài. Bên cạnh đó còn một số em tỏ thái độ thờ ơ với môn học vì thực tế hoàn cảnh gia đình còn khó khăn, bố mẹ đi làm ăn xa,... chưa có sự quan tâm sát sao của gia đình nên ảnh hưởng ít nhiều đến tinh thần học tập của các em. Ngoài ra điều kiện nhà trường còn thiếu phòng học chức năng nên nên ít nhiều ảnh hưởng đến việc dạy và học bộ môn. Khi xây dựng kế hoạch dạy học, giáo viên cần tạo cơ hội cho học sinh được quan sát mẫu cụ thể như hình ảnh đồ vật, co vật, phong cảnh, con người hay tranh, ảnh,để học sinh ghi nhớ, phân tích và chia sẻ với nhau dồng thời làm cơ sở cho học sinh trải nghiệm và khám phá trong các hoạt động mĩ thuật tiếp theo. Ví dụ: Quan sát hình ảnh thực tế hoặc tranh minh họa rồi vẽ, tạo hình (Bài : Những con vật dưới đại dương, Tắc kè hoa, Chú hổ trong rừng,). Giáo viên khuyến khích học sinh quan sát hình ảnh để nhận biết đặc điểm về hình dáng, các bộ phận, màu sắc,của đối tượng trước và trong quá trình thực hành tạo sản phẩm. *Sáng tạo từ tưởng tượng ( Vẽ tranh – Nặn tạo dáng – Vẽ trang trí ) : Học sinh liên tưởng đến những hình ảnh mới mà các em cảm nhận được khi quan sát các hình ảnh, sản phẩm mĩ thuật hay các vật liệu tái sử dụng, làm cơ sở sáng tạo tác phẩm cho mình theo sự liên tưởng về một nội dung chủ đề. Ví dụ : + Bài Rừng cây rậm rạp: học sinh sẽ tạo các chấm, nét cơ bản từ giấy màu , liên tưởng tới hình thân, cành, lá cây, Xây dựng ngân hàng hình ảnh là buocs khởi đầu cho bài tập tạo bức tranh Rừng cây. + Bài Chú chim nhỏ: giáo viên tổ chức cho học sinh quan sát sản phẩm in hình từ những chiếc là và trải nghiệm hình thức in chà xát tạo hình những chiếc lá , sau đó học sinh tưởng tượng từ sản phẩm hình in và them chi tiết đẻ tạo hình chú chim, rồi tưởng tượng và tiếp tục sáng tạo theo hướng gợi ý của giáo viên về nội dung chủ đề. + Bài Khuôn mặt ngộ nghĩnh: giáo viên cho học sinh quan sát những đồ vật do các em mang đến. Học sinh có thể tưởng tượng về hình dáng, nét biểu cảm của khuôn mặt thông qua hình dáng, chi tiết của đồ vật, tạo các chi tiết bộ phận trên khuôn mặt để tạo hình khuôn mặt có biểu cảm, để học sinh quan sát, liên tưởng và sáng tạo sản phẩm mĩ thuật. *Sáng tạo từ trí nhớ (Vẽ tranh – Vẽ trang trí – Nặn tạo dáng – Thủ công) : Giáo viên tổ chức một hoạt động hoặc đưa ra những câu hỏi về một chủ đề để giúp học sinh tưởng tượng hay nhớ đến một đối tượng cụ thể trong tâm trí rồi tái tạo hình tượng bằng 2D hay 3D với đề tài về con người, cảnh, vật hay những ước mơ của các em. Ví dụ: Bài Bầu trời và biển, Cổng trường nhộn nhịp, Tắc kè hoa, Con mèo tinh nghịch,học sinh nhớ về hìn ảnh bầu trời, mặt biển, thuyền, nhiều dáng người, các con vật dưới đại dươn , trong rừng, vật nuôi trong gia đình,sau đó tái tạo hình ảnh bằng vẽ, nặn hay xé dán . Các hoạt động giáo dục mĩ thuật bắt đầu bằng trí nhớ đòi hỏi giáo viên cần có những hiểu biết về đặc điểm lứa tuổi và những trải nghiệm thực tế của học sinh, từ đó có thể lựa chọn chủ đề và đưa ra mức độ yêu cầu phù hợp với năng lực của học sinh. 3. Dạy học dựa vào sự tham gia và kết quả học tập của học sinh, thông qua đánh giá liên tục. IV. KẾT QUẢ ÁP DỤNG Sau khi áp dụng các biện pháp trên cùng với việc thực hiện tích hợp các quy trình mĩ thuật của giáo viên, kết quả học Mĩ thuật của các em học sinh lớp 2 có chuyển biến nhất định: các em chủ động trong quá trình học tập, có khả tự học, tự khám kiến thức; biết sáng tạo từ quan sát đối với những bài vẽ theo mẫu; biết liên tưởng hình ảnh mới làm cơ sở sáng tạo tác phẩm cho mình về các nội dung chủ đề khác nhau đối với những bài vẽ tranh, vẽ trang trí hay nặn tạo dáng đặc biệt các em có khả năng lưu giữ hình ảnh rồi tái tạo hình tượng bằng 2D, 3D với dề tài về con người hay cảnh vật, từ đó các em thực sự hứng thú, say mê với giờ học. Việc thiết kế các hoạt động dựa trên những gì học sinh đã biết và những gì liên quan đến sở thích, mối quan tâm của các em làm cho học sinh thích học và học thực sự bởi quy trình mĩ thuật có liên quan và gắn bó với cuộc sống hàng ngày cũng như quá trình học tập của các em, giúp phát triển thêm kĩ năng sống mới cho các em. Bên cạnh đó, cũng hình thành cho học sinh những kĩ năng cần thiết như: tính toán, viết, đọc, nói, trình bày và làm việc theo nhóm. các em cũng phát triển được các năng lực, phẩm chất của mình: phẩm chất chăm chỉ, trách nhiệm; năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác; giải quyết vấn đề và sáng tạo và năng lực ngôn ngữ. VI. KẾT LUẬN Từ những biện pháp dạy học trên, bài học cho mỗi giáo viên trong quá trình đổi mới biện pháp dạy học là: - GV phải tạo môi trường thân thiện, cởi mở, gần gũi với học sinh. - GV kịp thời động viên học sinh, tạo cơ hội để các em tự giác, cố gắng vươn lên trong học tập. - Chủ động thiết kế những giờ học sinh động, hào hứng, hấp dẫn đối với HS để thu hút các em ham học, giáo viên không nên đặt ra yêu cầu quá cao cho HS. - Giáo viên luôn quan tâm, thường xuyên tuyên dương, khuyến khích HS; cần nhẹ nhàng, khéo léo khi giúp đỡ, hướng dẫn những em HS nhận thức còn chậm. Trên đây là báo cáo chuyên đề “ Phương pháp dạy học Mĩ thuật lớp 2”. Trong quá trình nghiên cứu và xây dựng chuyên đề vẫn còn nhiều thiếu sót và hạn chế, tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của BGH, đồng nghiệp để bản báo cáo chuyên đề của nhà trường được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn ! Thị trấn Lập Thạch, 20 tháng 4 năm 2022. Người thực hiện Phạm Thị Thái Hường III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC: A. HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ: HOẠT ĐỘNG 1: Xem tranh khu rừng. * Hoạt động khởi động: - GV: Cho HS hát bài hát đầu giờ. - HS hát đều và đúng nhịp. - Tổ chức cho HS chơi trò chơi. - HS cùng chơi. * Mục tiêu: - Cho HS biết cách xem tranh khu rừng. Màu sắc, - HS cảm nhận. đường nét, bố cục trong tranh. - Nêu được tên những con vật trong tranh, ảnh tự nhiên và những con vật sống trong khu rừng. * Gợi ý cách tổ chức. - Hướng dẫn và khuyến khích HS quan sát sản phẩm rừng cây và những con vật các em tạo ra từ bài học trước của chủ đề. - HS quan sát sản phẩm rừng cây và những con vật. - Tạo cơ hội cho HS thảo luận và chia sẻ những trải nghiệm của mình, những câu chuyện về các con vật sống trong rừng mà các em biết. - Gợi ý để HS nêu tên những con vật trong tự nhiên và những con vật sống trong rừng. - HS thảo luận và chia sẻ những trải nghiệm của mình. * Câu hỏi gợi mở: - Sản phẩm rừng cây của em có mấy con vật? - Trong rừng thường có những con vật nào? - HS trả lời các câu hỏi. - Con vật đó có tên gì? To hay nhỏ? - Hình dáng, màu sắc của nó ra sao? - Con vật đó di chuyển như thế nào?Chúng ăn gì? - Hãy chia sẻ những điều em biết về những con vật trong rừng? - Em thích con vật nào trong rừng? Vì sao?
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_phuong_phap_day_hoc_mon_mi_thuat_lop_2.docx