Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 2 học tốt môn Giáo dục thể chất
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 2 học tốt môn Giáo dục thể chất", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 2 học tốt môn Giáo dục thể chất

ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lí do chọn đề tài Giáo dục thể chất (GDTC) là một phần quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân, góp phần giáo dục con người phát triển toàn diện nhằm đáp ứng yêu cầu chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đặc trưng của môn GDTC ở trường phổ thông là biến những kiến thức mà học sinh nắm được, hiểu được thành kĩ năng hoạt động vận động, trên cơ sở đó phát triển thể lực và tăng cường sức khỏe cho các em. GDTC là môn học có đối tượng chính là sự phát triển thể chất của con người, góp phần quan trọng cho việc định hướng phát triển các thành phần của năng lực thể chất cho học sinh. Nội dung chủ yếu là rèn luyện vận động cơ bản và phát triển tố chất thể lực thông qua những bài tập thể chất đa dạng như: các bài tập đội hình đội ngũ, các bài tập thể dục, các trò chơi vận động, các môn thể thao Với mạch nội dung môn học bao gồm: Kiến thức chung về GDTC; Vận động cơ bản; Thể thao tự chọn. Là môn học duy nhất thực hiện nhiệm vụ rèn luyện và phát triển kĩ năng vận động, tố chất thể lực cho học sinh; trang bị cho các em kiến thức và kĩ năng chăm sóc sức khỏe; hình thành thói quen, ý thức tập luyện, có trách nhiệm đối với sức khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng. Từ đó, góp phần cải thiện tầm vóc người Việt Nam, hình thành nên một thế hệ người Việt mới khỏe mạnh, cường tráng, siêng năng vận động, tập luyện thể dục thể thao. Môn GDTC là một trong số ít các môn học trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018 sử dụng rất đa dạng, số lượng lớn các loại thiết bị khác nhau. Các thiết bị cơ bản có thể kể đến một số thiết bị như: tranh ảnh, băng đĩa ghi hình các bài tập thể chất, môn thể thao (hoạt động thể dục thể thao); loa; ampli; máy chiếu; dụng cụ tập luyện vận động cơ bản và dụng cụ các môn thể thao; phương tiện tổ chức các trò chơi vận động; đồng hồ bấm giây; còi; cờ; thước Bậc tiểu học là bậc học nền tảng trong chương trình giáo dục phổ thông. Yêu cầu cấp thiết là hình thành và phát triển nhân cách học sinh với mục tiêu giáo dục toàn diện (đức, trí, thể mỹ, lao động). Do vậy môn GDTC lại càng là một môn học quan trọng trong nhà trường, học sinh tham gia học tốt sẽ góp phần phát triển thể chất, đảm bảo các yêu cầu về sức khỏe để tham gia học tốt các môn học khác cũng như thực hiện tốt các mặt hoạt động. Việc nắm rõ đặc điểm tâm sinh lí trẻ và vận dụng tốt các hình thức, phương pháp giảng dạy sẽ giúp học sinh học tốt môn GDTC trong các nhà trường. Với học sinh lớp 2, mặc dù các em đã biết hành động có chủ định và hành động theo chỉ dẫn của người khác ở mức nhất định. Tuy nhiên kỹ năng vận động 3 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1. Mục tiêu giáo dục tiểu học Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản.Góp phần hình thành và phát triển những cơ sở nền tảng về nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Sản phẩm của giáo duc tiểu học có giá trị cơ bản, lâu dài, có tính quyết định đối với cuộc đời mỗi con người. Bất kì ai cũng phải sử dụng các kĩ năng nghe, nói, đọc viết và tính toán được học ở tiểu học để sống để làm việc. Trường tiểu học là nơi đầu tiên dạy trẻ em biết yêu gia đình, quê hương, đất nước và con người, biết đọc, biết viết biết làm tính, biết tìm hiểu tự nhiên, xã hội và con người. Bước đầu xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học trung học cơ sở. 1.2. Đặc điểm về mặt cơ thể lứa tuổi 7 - 8 - Hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò chơi vận động như chạy, nhảy, nô đùa,...Vì vậy mà các nhà giáo dục nên đưa các em vào các bài tâp, trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự an toàn. - Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân, xương tay đang trong thời kỳ phát triển (thời kỳ cốt hoá) nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập,...Vì thế mà trong các hoạt động vui chơi của các em các nhà giáo dục cần chú ý quan tâm, hướng các em tới các hoạt động vui chơi lành mạnh, an toàn. - Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duy trừu tượng. - Trọng lượng cơ thể mỗi năm tăng khoảng 3 – 4 kg. Trung bình, ở độ tuổi này, chiều cao có thể tăng từ 5 đến 6,5 cm/năm. Cụ thể, chiều cao cân nặng của trẻ 7 -8 tuổi sẽ vào khoảng 121.7 cm và 22,9 kg với bé trai; 120.8 cm và 22,4 kg với bé gái. 1.3. Đặc điểm về hoạt động lứa tuổi 7-8 Quá trình phát triển thể chất phần lớn là hoàn thiện các kỹ năng, sự phối hợp và kiểm soát cơ bắp. Những trẻ có tiềm năng thể thao có thể thể hiện khả năng của mình ở giai đoạn phát triển này vì đây là độ tuổi các kỹ năng vận động 5 - Tính hồn nhiên, vui tươi hướng về những cảm xúc tích cực. - Hay bắt chước những người gần gũi, có uy tín với trẻ (cha mẹ, thầy cô, bạn bè) - Hành vi ý chí chưa cao, bản tính hiếu động, khó kiềm chế, kém tự chủ nên dễ phạm lỗi, nhất là đối với các yêu cầu có tính nghiêm ngặt, đòi hỏi sự tập trung cao độ, gây căng thẳng. - Nhân cách của học sinh tiểu học chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: gia đình, nhà trường, xã hội trong đó những ảnh hưởng từ cha mẹ, thầy cô là rất quan trọng vào đầu tuổi và sau đó là các ảnh hưởng từ bạn bè và phương tiện thông tin đại chúng, sách báo, phim ảnh - Đặc điểm nổi bật nhất là đời sống tình cảm của học sinh tiểu học, các em đang ở lứa tuổi ngây thơ, trong trắng, rất dễ xúc cảm trước hiện thực, rất dễ hình thành những tình cảm tốt đẹp. Các em dễ xúc cảm mạnh, đã có ấn tượng khá sâu sắc và khá bền vững. Các em sống nhiều bằng tình cảm và bị ảnh hưởng nhiều bởi tình cảm. - Tình cảm của các em mang tính cụ thể, trực tiếp và giàu cảm xúc. Nó không chỉ biểu hiện trong đời sống sinh hoạt mà còn trong cả hoạt động trí tuệ, các em tiếp thu kiến thức không đơn thuần bằng lý trí, mà còn dựa nhiều vào cảm tính và đượm màu sắc tình cảm, các em dễ bị “lây” những cảm xúc của người khác. Năng lực tự kiềm chế những biểu hiện tình cảm còn yếu, tình cảm cũng dễ thay đổi, dễ dịu đi nhưng cũng dễ bị kích động, vừa khóc đã có thể cười ngay. - Tình cảm của các em đã có nội dung phong phú và bền vững hơn tuổi mẫu giáo. Những tình cảm cao cấp đang hình thành. Đặc biệt tình cảm gia đình giữ vai trò khá quan trọng, nhiều khi lòng yêu thương cha mẹ trở thành động cơ học tập của các em. Những tình cảm đạo đức, thẩm mĩ thường gắn với những sự vật cụ thể, gần gũi với các em. Tình bạn và tính tập thể được hình thành và phát triển cùng với tình thầy trò. Tình bạn còn dựa vào hứng thú chung đối với một hoạt động vui chơi hay học tập. Nó chưa có cơ sở lí trí vững vàng nên dễ thay đổi: thân nhau, giận nhau, làm lành với nhau là hiện tượng thường xuyên xảy ra. Tình cảm tập thể có ý nghĩa lớn đối với các em. Các em dễ dàng gắn bó với nhau, những người có vai trò lớn trong tập thể là thầy, cô giáo. Đó là trung tâm của những mối quan hệ giữa các em, là biểu hiện ý kiến chung của trẻ. Những tình cảm rộng lớn hơn như lòng yêu tổ quốc, yêu lao động, lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm cũng đang được hình thành. - Những phẩm chất ý chí và tình cảm của học sinh cấp I cũng bắt đầu nảy sinh và phát triển. Các em có thể rèn luyện để có tính kế hoạch, tính kiên trì, 7 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY MÔN HỌC GDTC LỚP 2 2.1. Mục đích của điều tra thực trạng Nhận biết được nguyên nhân vì sao kết quả giảng dạy, giáo dục môn thể dục trong trường tiểu học là chưa cao. Chưa phát triển thể chất đồng đều ở tất cả các đối tượng học sinh. Làm cơ sở để điều chỉnh, đưa ra các biện pháp giúp sáng kiến được hoàn thiện hơn. Giúp các em có hứng thú tham gia vào giờ học và đạt kết quả cao hơn trong giờ học. 2.2. Tình hình chung. GDTC là môn học cần nhiều đồ dùng trực quan. Sách giáo viên chỉ là gợi ý chung cho tất cả vùng miền, muốn dạy – học có hiệu quả cần có nội dung, phương pháp dạy học phù hợp với từng vùng, miền. Trước đây một số giáo viên quan niệm môn GDTC không quan trọng bằng các môn khác, nên chưa có sự đầu tư đúng mức cho môn học, chưa thực hiện tốt các phương pháp giảng dạy, không có sự chuẩn bị kĩ về bài dạy kể cả về việc luyện tập trước các bài tập, động tác kĩ thuật. Những năm gần đây hầu hết các quận, huyện đã tuyển giáo viên thể chất vào các trường. Và ở các trường Tiểu học đều đã có giáo viên chuyên dạy bộ môn GDTC, vì vậy kĩ năng sáng tạo sẽ có những bước tiến triển để bổ sung vào bộ sách giáo viên. 2.3. Thực trạng về việc giảng dạy phân môn GDTC 2.3.1 Thuận lợi: - Ban giám hiệu nhà trường luôn động viên, quan tâm sát sao đến việc dạy và học bộ môn GDTC để bồi dưỡng sức khỏe, năng lực phẩm chất và tinh thần cho các em. - Hầu hết các em học sinh ở lứa tuổi này trong nhà trường đều rất ngoan và biết nghe lời. 2.3.2 Khó khăn: - Phạm vi nhà trường nhỏ hẹp, cơ sở vật chất phục vụ cho môn thể dục còn thiếu thốn, chưa có nhà đa chức năng, học sinh vẫn phải tập ngoài trời, các tiết học còn bị phụ thuộc vào thời tiết, cùng với đó sân bãi để tập luyện lại không có. Học sinh chỉ có thể hoạt động trong một khoảng sân nhỏ gây khó khăn cho việc học tập vì nhiều hoạt động, nhiều trò chơi mang tính năng động không thể áp dụng. Vừa tổ chức hoạt động học tập vừa phải chú ý để không làm ảnh hưởng đến các lớp khác đang học. - Về học sinh: ở lớp 2, tư duy của các em còn mang tính hình ảnh cụ thể, trong suy nghĩ đối với môn thể dục chỉ là những tiết học giúp các em được chạy nhảy, vui chơi, việc học môn thể dục rất thụ động. 9 CHƯƠNG III: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 2 HỌC TỐT MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT Mỗi tiết học thể dục có thể coi là mỗi bước đi bằng hành động cụ thể trong quá trình biến mục đích, nội dung giáo dục thành kết quả thực tế. Để giúp các em học tốt môn GDTC, khi lên lớp giáo viên phải biết vận dụng và kết hợp các phương pháp giảng dạy cho phù hợp, giúp các em hứng thú hơn với môn học, đăc biệt phải tạo cho các em có tâm lý thoải mái “học mà chơi, chơi mà học”. Như vậy, mới đem lại hiệu quả cho buổi học thể dục. Trước mỗi giờ lên lớp giáo viên cần nghiên cứu các tài liệu liên quan như sách giáo viên, các sách báo giáo dụcđể nắm được mục tiêu, yêu cầu của nội dung bài học. Sau đó định ra lượng vân động cho từng nội dung và cả giờ học. Tiếp theo xây dựng kế hoạch cụ thể thông qua soạn bài, xác định mục tiêu kiến thức, kỹ năng và các phương pháp cho từng nội dung. Trong quá trình giảng dạy qua những lần áp dụng thành công và thất bại tôi đã rút ra kinh nghiệm và đưa ra một số biện pháp sau: 3.1. Biện pháp thứ 1: Đổi mới công tác chuẩn bị của giáo viên trước khi lên lớp. Trước khi lên lớp giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung kiến thức, yêu cầu cần đạt của từng tài, từ đó lựa chọn, đưa ra những phương pháp giảng dạy phù hợp, đem lại hiệu quả cao nhất. Giáo viên phải có ý thức chuẩn bị bài, thiết kế bài học theo hướng phát triển năng lực, phẩm chất học sinh: - Xác định mục tiêu bài học. - Xác định và lựa chọn nội dung bài học. - Lựa chọn và vận dụng phương pháp, hình thức tổ chức dạy học. - Lựa chọn phương tiện, thiết bị dạy học. - Thiết kế kế hoạch dạy học. Đặc biệt, ở mỗi giờ học giáo viên cần dự kiến trước những tình huống sư phạm có thể xảy ra, để có biện pháp xử lý phù hợp và kịp thời. Tham khảo nhiều trò chơi hấp dẫn, bổ ích để lồng ghép vào phần khởi động của giờ dạy tạo hứng thú cho học sinh tập luyện. Trong quá trình giảng dạy môn GDTC ở trường tiểu học công tác chuẩn bị của giáo viên trước khi lên lớp góp phần giúp tiết học được sinh động hơn, giúp học sinh hứng thú hơn trong tập luyện. 3.2. Biện pháp thứ 2: Vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức dạy học theo hướng phát triển năng lực, phẩm chất:
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_lop_2_h.doc