Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp dạy học giúp học sinh Lớp 2 làm giàu vốn từ ngữ trong phân môn Luyện từ và câu
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp dạy học giúp học sinh Lớp 2 làm giàu vốn từ ngữ trong phân môn Luyện từ và câu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp dạy học giúp học sinh Lớp 2 làm giàu vốn từ ngữ trong phân môn Luyện từ và câu

Trong các môn học ở tiểu học, môn Tiếng Việt là môn có vị trí hết sức quan trọng. Nó cung cấp vốn ngôn ngữ, xây dựng nền tảng kiến thức. Nó còn là công cụ giúp cho học sinh học các môn khác. Đặc biệt phân môn Luyện từ và câu là phân môn rèn học sinh kỹ năng nghe, đọc, nói , viết trong đó kỹ năng nói là yêu cầu cơ bản khá trọng tâm ở phân môn Luyện từ và câu. A. PHẦN MỞ ĐẦU I.Lý do chọn đề tài Trong các môn học ở tiểu học, môn Tiếng Việt là môn có vị trí hết sức quan trọng. Nó cung cấp vốn ngôn ngữ, xây dựng nền tảng kiến thức. Nó còn là công cụ giúp cho học sinh học các môn khác. Đặc biệt phân môn Luyện từ và câu là phân môn rèn học sinh kỹ năng nghe, đọc, nói , viết trong đó kỹ năng nói là yêu cầu cơ bản khá trọng tâm ở phân môn Luyện từ và câu. Qua mỗi tiết Luyện từ và câu, các em được mở rộng một lượng vốn từ nho nhỏ, tích lũy cho mình một vốn từ phong phú và đa dạngNhưng điều quan trọng hơn là các em biết cách dùng từ ngữ, câu văn để diễn đạt một ý, liên kết các ý trong một đoạn, một bài. Đấy chính là yêu cầu rèn kĩ năng nói cho học sinh. Qua thực tế giảng dạy nhiều năm, tôi thấy dạy học sinh nói được một câu hay, giàu cảm xúc là một kĩ năng khó của phân môn Luyện từ và câu. Bởi vậy, hiệu quả giờ dạy Luyện từ và câu còn hạn chế. Một phần người dạy còn chưa tìm ra quy trình và phương pháp dạy thích hợp. Hơn nữa đây là phân môn hoàn toàn khó đối với học sinh lớp1, 2.. Với đối tượng này vốn từ ít, kỹ năng diễn đạt còn hạn chế, các em đọc còn chưa lưu loát vì vậy ít nhiều hạn chế đến khả năng đặt câu đúng, câu hay, diễn đạt bằng lời nói, lời kể và cách diễn xuất của mình qua từng đoạn chuyện, câu chuyện. Vì vậy, các em thiếu tính mạnh dạn, tính tự tin trong học tập . Để khắc phục tình trạng trên nhiệm vụ đặt ra cho tôi là làm thế nào để học sinh mở rộng được vốn từ ngữ của mình một cách sâu sắc, có một vốn từ phong phú và đa dạng? Vì những lý do trên tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài : “Một số biện pháp dạy học giúp học sinh lớp 2A trường Tiểu học Lý Thường Kiệt làm giàu vốn từ ngữ trong phân môn Luyện từ và câu”, để góp phần nâng cao chất lượng học môn Luyện từ và câu nói riêng và học Tiếng Việt nói chung trong nhà trường Tiểu học. II. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 1.Mục đích nghiên cứu Đề tài nhằm mục đích nghiên cứu, đề xuất những biện pháp góp phần vào đổi mới cách dạy học sinh mở rộng vốn từ ngữ trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp 2. Từ cách đổi mới phương pháp dạy của thầy góp phần đổi mới cách học của trò. Phát huy hết khả năng tự phát hiện của học sinh thông qua cách tổ chức dạy học của giáo viên và cách học của học sinh. Qua đề tài này tôi mong muốn được góp một phần nhỏ vào việc rèn luyện cho học sinh kỹ năng chính: – Làm giàu vốn từ ngữ cho học sinh – Biết sử dụng từ ngữ trong đời sống hàng ngày. 2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Giáo dục Tiểu học là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện con người, đặt nền tảng cho giáo dục phổ thông. Vì vậy phương pháp dạy học ở bậc tiểu học có tầm quan trọng đặc biệt, góp phần hình thành cho học sinh phương pháp học tập đúng đắn, hình thành nếp tư duy sáng tạo ngay từ khi các em bắt đầu đến trường phổ thông. Trong các môn học ở tiểu học môn Tiếng Việt là môn có vị trí hết sức quan trọng. Nó cung cấp vốn ngôn ngữ, xây dựng nền tảng kiến thức ban đầu còn là công cụ giúp cho học sinh học các môn khác. Đặc biệt là phân môn Luyện từ và câu là phân môn đóng vai trò quan trọng đối với việc phát triển ngôn ngữ của học sinh nói chung và của học sinh lớp Hai nói riêng. Trong thực tế môn Luyện từ và câu có vị trí rất quan trọng là chìa khóa mở ra kho tàng văn hóa trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội của con người.Hơn nữa phân môn Luyện từ và câu giúp học sinh lĩnh hội Tiếng việt, văn hóa là công cụ giúp học sinh sử dụng Tiếng Việt đạt hiệu quả tốt mà còn học tốt các môn học khác, rèn cho học sinh bốn kỹ năng nghe, đọc, nói, viết thành thạo. Qua thực tế giảng dạy nhiều năm, tôi thấy dạy học sinh biết cách giao tiếp tốt, viết được đoạn văn ngắn thì phải làm giàu vốn ngôn ngữ cho học sinh. Làm giàu vốn ngôn ngữ cho học sinh lớp Hai là một việc làm quan trọng trong phân môn Luyện từ và câu.Việc phát triển và làm giàu vốn ngôn ngữ cho học sinh góp phần giúp học sinh có kĩ năng dùng từ để đặt câu và giao tiếp tốt. Hơn nữa, phân môn Luyện từ và câu hoàn toàn mới đối với học sinh lớp 2. Vì các em từ lớp 1 lên, các em mới làm quen với thể loại này. Với đối tượng này vốn từ ít, kỹ năng nói và viết diễn đạt còn hạn chế. Học sinh chưa hiểu sâu về nghĩa các từ ngữ và bản chất của câu nên khi nói và viết một đoạn văn các em thường bộc lộ các yếu điểm về diễn đạt như : từ lặp lại nhiều, câu không rõ nghĩa, các câu trong đoạn văn còn lộn xộn, viết đoạn văn mang tính chất trả lời câu hỏi. Học sinh thường dập khuôn theo sự hướng dẫn của giáo viên. 2. Cơ sở thực tiễn Bước vào đầu năm học, nhà trường phân công cho tôi chủ nhiệm lớp 2a. trong quá trình trực tiếp giảng dạy các em tôi cảm thấy hầu hết các em chưa biết nói thành câu. Các em giao tiếp với nhau lời lẽ cụt ngủn, đôi khi nói năng cộc lốc không lịch sự. Ngôn ngữ của các em rất hạn chế, vốn sống còn ít, vốn hiều biết về Tiếng Việt chưa nhiều, việc nói và viết thành câu, thành một đoạn văn gặp nhiều khó khăn. Việc dạy từ ngữ cho học sinh chính là quá trình giáo viên khơi dậy sự hiểu biết và cảm nhận của các em về người, vật và cuộc sống xung quanh. Điều đó đòi hỏi giáo viên có phương pháp mở rộng vốn từ giúp các em tìm được nhiều từ ngữ và biết sử dụng từ ngữ một cách thích hợp, sử dụng từ chính xác và hay khi nói và viết. Song thực tế chỉ ra rằng một số học sinh lớp 2 vốn sống của các em còn hạn chế do đó khi diễn đạt nói và viết học sinh còn gặp nhiều khó khăn. II. Thực trạng và nguyên nhân 1.Thực trạng a.Thuận lợi -Trường Tiểu học Lý Thường Kiệt được nằm giữa trung tâm của xã EaM’nang, dân cư đông đúc, chủ yếu là người Kinh. Trường được sự quan tâm của các cấp ủy đảng và Qua quá trình thực hiện phương pháp quan sát trên tất cả các lĩnh vực tôi thấy ngôn ngữ của các em còn rất hạn chế, việc trả lời câu hỏi thường thiếu phần chủ ngữ,câu cú còn lộn xộn, gọn lỏn. Sử dụng ngôn ngữ trong văn bản còn nghèo nàn. Tôi theo dõi việc tiếp thu bài học của học sinh trong một tháng đầu của năm học và tiến hành điều tra kết quả học tập môn Luyện từ và câu của lớp. Kết quả điều tra giai đoạn giữa tháng 9 như sau: Sau khi dạy các bài Luyện từ và câu tuần 1,2,3,4 mở rộng vốn từ về sự vật và mở rộng vốn từ ngữ về học tập. Tôi ra 1 bài tập cho học sinh làm vào giấy: 1. Tìm từ? – Tìm 5 từ chỉ đồ dùng học tập:. -Tìm 5 từ chỉ các bộ phận bên ngoài của người:.. -Tìm 5 từ có tiếng chăm:. 2. Đặt một câu với 1 từ vừa tìm được Mẫu: Em chăm chỉ học tập. Sau khi học sinh làm bài xong, tôi kiểm tra bài tập của các em, tôi thấy các em có vốn từ rất ít chỉ tìm được vài ba từ, chứ chưa tự tìm được các từ theo yêu cầu của cô giáo đã giao. Tôi cho học sinh đặt 1 câu với một trong các từ tìm được thì học sinh đa số không biết dùng từ để đặt câu, giáo viên phải nói câu mẫu học sinh mới đặt được câu theo dập khuôn một cách máy móc Kết quả đạt được như sau : TÌM TỪ ĐẶT CÂU CÂU CÂU SAI NGỮ TỪ CHỈ DD HỌC TẬPTỪ CÓ TIẾNG CHĂM Giai đoạn ĐÚNG PHÁP đầu th thángTÌM ĐỦ,CHƯA TÌM ĐỦ,CHƯA 9 ĐÚNG( 5 ĐẠT ĐÚNG( 5 ĐẠT TỪ) YC TỪ) YC SL % SL % SL % SL % SL % SL % Lớp 2a: 5 16,6 25 83,4 5 16,6 25 83,4 8 26,7 22 73,3 ss:30 Nhìn vào bảng dữ liệu, số lượng học sinh của lớp 2a có vốn từ quá ít ỏi, biết dùng từ để đặt câu đúng theo một chủ điểm chỉ có 8 em .Số lượng học sinh viết thành câu chưa đúng ngữ pháp chiểm quá nhiều 73,3%. Đa số các em còn trả lời theo câu hỏi gợi ý, chứ chưa biết đặt một câu hoàn chỉnh, một số các em còn viết câu lộn xộn. d. Mặt mạnh, mặt yếu *Mặt mạnh: Bản thân tôi đã có 18 năm trong nghề dạy học. Tôi là người luôn luôn tận tụy với công việc, yêu nghề, mến trẻ, luôn thích tìm tòi học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp, có ý chí phấn đấu, không sợ khó khăn gian khổ. Nhiều năm liền là giáo viên dạy Với lứa tuổi của các em học sinh lớp 2, vốn từ của các em còn nghèo nàn, việc sử dụng từ ngữ trong giao tiếp còn nhiều hạn chế. Hầu hết học sinh sử dụng từ ngữ chưa phù hợp, chưa chính xác. Vì vậy, tôi đã cung cấp vốn từ cho học sinh giúp các em lựa chọn, phân tích để sử dụng từ ngữ cho hợp lý. Khi dạy Luyện từ và câu tôi đã chú trọng mở rộng vốn từ cho học sinh, bằng cách cho các em thi nhau tìm những từ ngữ thuộc chủ đề, chủ điểm các em đang học, khuyến khích học sinh tìm càng nhiều từ càng tốt. Khi học sinh không tìm được từ nhiều, tôi đã nêu câu hỏi gợi mở để các em hiểu và dễ dàng tìm được. Bên cạnh đó, tôi đã giới thiệu, cung cấp thêm các từ đồng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa phù hợp với chủ đề các em học. a.Về từ cùng nghĩa Học sinh lớp hai chưa học khái niệm về từ cùng nghĩa, nên học sinh rất khó khăn tìm được những từ cùng nghĩa, vì thế tôi cho học sinh mở rộng các từ cùng nghĩa theo một số trường hợp sau: a.1.Những cặp từ cùng nghĩa có cấu tạo nghich đảo: Ví dụ: dạy bài 1 tuần 12 Mở rộng vốn từ ngữ về tình cảm Bài tập yêu cầu ghép tiếng theo mẫu để tạo thành các từ chỉ tình cảm gia đình. Để dạy bài tập này tôi cho các em dùng những cặp từ cùng nghĩa có cấu tạo nghịch đảo: yêu thương – thương yêu, yêu quý – quý yêu, yêu mến- mến yêu, thương mến- mến thương. Dựa vào cấu tạo nghich đảo ấy học sinh dễ dàng tìm được nhiều cặp từ cùng nghĩa khác theo yêu cầu cô ra. a.2.Từ cùng nghĩa theo địa phương: Khi dạy mở rộng vốn từ về con vật, tôi cho học sinh mở rộng vốn từ bằng cách khai thác vốn từ cùng nghĩa theo vùng, miền. ví dụ :giáo viên treo tranh vẽ con ngan và hỏi học sinh: miền bắc gọi con vật này là con gì?- (con ngan), còn miền Nam gọi con vật này là con gì? (con vịt xiêm). Dùng cách hỏi như vậy vơí các con vật khác: con ngan- vịt xiêm, con heo- con lợn, con hổ- con cọp Với cách khai thác từ địa phương giáo viên khuyến khích học sinh phân vùng để tìm từ. Ví dụ: mẹ, má, mế, u , bu, bầm, bủcái tẩy – cái gôm, bút- cây viết, bông – hoa, bát ăn cơm- chén ăn cơm, thìa – muỗng b. Từ gần nghĩa Lớp hai học sinh cũng chưa học về khái niệm từ gần nghĩa, nên việc học sinh tìm được những từ gần nghĩa cũng rất khó khăn, do đó tôi đã dựa vào từng chủ đề, chủ điểm mà tôi cho học sinh phân định rõ từng kiểu từ gần nghĩa. + Từ chỉ sự vật Ví dụ: dạy về từ chỉ sự vật, tôi đặt câu hỏi gợi mở cho học sinh tìm các từ gần nghĩa Chẳng hạn: tổ quốc còn gọi là gì? ( non sông, đất nước, giang sơn, quốc gia,) Tương tự cách hỏi như vậy với: Đặc biệt tôi rất quan tâm đến dạy cho học sinh một số thành ngữ, quán ngữ và tục ngữ thông dụng. theo từng chủ đề tôi dạy cho học sinh tìm và biết sử dụng một số thành ngữ, tục ngữ khi diễn đạt nói và viết. Ví dụ : Khi dạy về chủ đề thầy cô giáo tôi cho các em tìm những câu thành ngữ nói về công ơn của thầy cô giáo chẳng hạn: Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy. Hoặc: Muốn sang phải bắc cầu kiều, muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy. .. Dạy về chủ đề gia đình cho học sinh tìm những câu thành ngữ nói về công ơn cha mẹ: công cha như núi thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra, hoặc : Con có cha như nhà có nóc, con có mẹ như măng ấp bẹ Dạy về chủ đề các loài chim cho học sinh tìm những câu thành ngữ nói về các loài chim: nói như vẹt, hót như khướu, đen như quạ, hôi như cú, -Chú trọng cách dùng từ đặt câu của học sinh. -Tăng cường củng cố, mở rộng kiến thức cho học sinh: +Trong quá trình giảng dạy, tôi thường liên hệ những nội dung kiến thức có liên quan đến các chủ đề học tập trong các phân môn: Tập đọc, chính tả và phân môn Tập làm văn, để cung cấp thêm vốn hiểu biết, vốn từ ngữ về sự vật, hiện tượng xoay quanh các chủ đề để học sinh có kiến thức, không bỡ ngỡ khi gặp những đề bài mới chưa được luyện tập trên lớp. Giúp học sinh có hiểu biết về đề tài, vận dụng kỹ năng thực hành để học sinh có vốn kiến thức và vốn từ phong phú, đa dạng. Khi học sinh đã có vốn từ phong phú thì chắc chắn các em sẽ tự tin trong giao tiếp, học sinh trình bày lời nói của mình sẽ lưu loát hơn. Các em đứng trước đám đông sẽ tự nhiên mà không ngại ngùng e sợ. Khi sử dụng phương pháp trên vào dạy học sinh mở rộng vốn từ ngữ, tôi thấy kích thích sự sáng tạo của học sinh trong quá trình tìm từ ngữ, rèn luyện tư duy cho học sinh Học sinh tìm được nhiều từ mới hơn khi kết hợp với phương pháp gợi mở của giáo viên. 2.Sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ để mở rộng vốn từ a.Mục tiêu – Sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ kích thích sự sáng tạo, sự chủ động của học sinh trong quá trình tìm hiểu ngôn ngữ giúp học sinh hiểu cặn kẽ hơn về hiện tượng ngôn ngữ cần nhận thức và nhớ kĩ bài học hơn. b. Nội dung và cách thức thực hiện Học sinh lớp 2 chưa được học về lý thuyết, ngữ pháp, các khái niệm từ và câu được hình thành thông qua thực hành luyện tập. Chính vì vậy, việc tăng cường sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ rất cần thiết trong giờ học Luyện từ và câu. Để sử dụng phương pháp này, giáo viên giới thiệu ngữ liệu cần phân tích, hướng dẫn học sinh quan sát và phân tích ngữ liệu theo định hướng của nội dung bài học, hướng dẫn học sinh hình thành khái niệm lý thuyết cần đúc kết qua phân tích hiện tượng ngôn ngữ, hướng dẫn học sinh củng cố và vận dụng lí thuyết đã học vào việc luyện tập phân tích một số hiện tượng ngôn ngữ. ví dụ: dạy bài tuần 2 – Mở rộng vốn từ ngữ về học tập-Luyện Từ và câu lớp 2 trang 9 Bài tập 1 tìm các từ
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_day_hoc_giup_hoc_sinh.docx