Sáng kiến kinh nghiệm Coi trọng tính chất thực hành trong giờ tập viết Lớp 2
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Coi trọng tính chất thực hành trong giờ tập viết Lớp 2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Coi trọng tính chất thực hành trong giờ tập viết Lớp 2

Sáng kiến kinh nghiệm coi trọng tính chất thực hành trong giờ tập viết lớp 2 PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẬN ĐỐNG ĐA TRƯỜNG TIỂU HỌC VĂN CHƯƠNG Sáng kiến kinh nghiệm COI TRỌNG TÍNH CHẤT THỰC HÀNH TRONG GIỜ TẬP VIẾT KHI DẠY HỌC SINH LỚP 2 VIẾT Người thực hiện: Hoàng Thị Kim Liên Giáo viên chủ Số lượng, nội dung và hình thức như vậy là phù hợp với học sinh lớp 2. Tuy nhiên, thực tế giảng dạy cho thấy học sinh lớp 2 học môn tập viết để viết đẹp là rất khó. ở lớp 1 các em mới làm quen với chữ hoa qua hình thức tập tô trong giai đoạn luyện tập tổng hợp ở học kỳ 2. Chính vì vậy khi viết chính tả, chữ hoa của các em mới dừng ở mức độ gần giống với hình dáng theo mẫu chữ qui định, một ssó em còn thao tác ngược hoàn toàn với qui trình viết ( ) hoặc nhấc bút tuỳ tiện ( ), không biết đau là điểm nhấn của con chữ để tạo độ mềm mại, đẹp. Còn một lý do nữa rất bức xúc là trong giờ dạy tập viết, còn nhiều giáo viên chưa chú ý và coi trọng tính luyện tập, thực hành của học sinh, mà đi sâu quá vào việc giải thích qui trình viết chữ, nên học sinh không được luyện viết nhiều và luyện viết còn mang tính hình thức. vì vậy để học sinh lớp 2 viết đúng, tiến tới viết đẹp chữ hoa hiện hành, từ đó trình bày đẹp một đoạn văn, đoạn thơ là mối quan tâm và trăn trở rất lớn của tôi cũng như các đồng nghiệp. Chương II: Hệ thống giải pháp I. Phương pháp thực hiện: Phương pháp luyện tập (một trong 3 phương pháp: trực quan, đàm thoại gợi mở, luyện tập) là phương pháp có vai trò quan trọng trong hoạt động dạy học phân môn tập viết ở lớp 2, vì chữ viết của học sinh là sản phẩm của quá trình vận động có sự phối hợp đồng bộ của nhiều bộ phận cơ thể (mắt nhìn, óc nghĩ và điều khiển cơ quan vận động, cơ và xương bàn tay hoạt động, đồng thời có sự “lan toả” ảnh hưởng tới một số cơ quan khác đối với cơ thể học sinh ở lứa tuổi tiểu học). Vậy để việc luyện tập thực hành của học sinh có hiệu quả, sản phẩm là chữ viết của các em đúng và đẹp, theo tôi người giáo viên cần tiến hành như sau: 1. Giáo viên cần chú ý đến các giai đoạn cuẩ quá trình tập viết chữ. Việc hưuớng dẫn học sinh luyện tập thực hành phải tiến hành từ thấp đến cao, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp để học sinh dễ tiếp thu. Lúc đầu là việc viết đúng hình dáng, cấu tạo, kích thước các cỡ chữ, sau đó là viết đúng dòng và đúng tốc độ qui định. Việc rèn luyện kỹ năng viết chữ phải được tiến hành đồng bộ ở lớp cũng như ở nhà, ở phân môn tập viết cũng như ở các phân môn của bộ môn Tiếng Việt và ở các môn học kháng. 2. Khi học sinh luyện tập viết chữ, giáo viên cần luôn luôn chú ý uốn nắn để các em cầm bút và ngồi viết đúng tư thế. Bài viết đẹp phải đi kèm voí tư thế đúng, rèn cho trẻ viết đẹp mà quên mất việc uốn nắn cách ngồi viết là một thiếu sót lớn của giáo viên. Trong quá trình luyện tập của học sinh, tôi thường lưu ý các hình thức luyện tập cơ bản sau: Hình thức thứ nhất: Luyện các thao tác chuẩn bị viết chữ Học sinh dùng que chỉ “đồ” trên mẫu ở phần hướng dẫn qui trình viết; viết bằng ngón tay vào khoảng không trước mặt, nếu cần có thể tập viết nét khó, nét đặc biệt chú ý để chữ viết hoa được đúng và đẹp. Hình thức thứ hai: Luyện viết chữ hoa trên bảng lớp Hình thức tập viết chữ trên bảng lớp có tác dụng kiểm tra sự tiếp thu cách viết chữ hoa và bước đầu đánh giá kỹ năng viết chữ hoa của học sinh. Hình thức này thường dùng trong một quá trình viết từ và cụm từ ứng dụng. Qua đó giáo viên phát hiện chỗ sai của học sinh (về hình dáng, cách viết, thứ tự các nét...) để uốn nắn chung cho cả lớp hoặc Việc đảm bảo tốt các công việc trtên sẽ giúp các em viết tốt hơn ở những dòng sau. Hình thức thứ năm: Luyện tập viết chữ hoa khi học các môn học khác Ngoài các giờ tập viết, giáo viên còn phải luôn nhắc nhở học sinh tập viết các chữ hoa ở các môn (phân môn) khác. Có như thế việc luyện tập viết chữ mới được củng cố đồng bộ thường xuyên, nhằm nâng cao chất lượng chữ viết và hình thành ở học sinh những phẩm chất tốt như tính kiên trì, cẩn thận, khiếu thẩm mỹ. Việc làm này đòi hỏi ở giáo viên ngoài những hiểu biết về chuyên môn còn cần sự kiên trì, tính cẩn thận và lòng yêu nghề mến trẻ. II. Tổ chức thực nghiệm (giáo án): Bài 14: Chữ hoa I.Mục đích, yêu cầu: Rèn kỹ năng viết chữ: - Biết viết chữ theo cỡ vừa và cỡ nhỏ. - Viết cụm từ ứng dụng “ ” cỡ nhỏ; chữ viết đúng mẫu, đầu nét và nối chữ đúng qui định. II. Đồ dùng dạy học: - Mẫu chữ đặt trong khung chữ - Bảng lớp (góc bên phải) viết sẵn mẫu chữ cỡ nhỡ và nhỏ trên dòng kẻ ly như vở tập viết. III. Các hoạt động dạy học A. Kiểm tra bài cũ: - Giáo viên nhận xét bài tập viết ở nhà của học sinh. - Học sinh cả lớp luyện chữ và chữ ghi từ ứng dụng: (Hai học sinh luyện viết bảng lớp, cả lớp luyện viết bảng con) - (tính thực hành). B. Dạy bài mới: 1. Giới thiệu bài, giáo viên nêu mục đích, yêu cầu của tiết học. 2. Hướng dẫn viết chữ hoa: 2.1 Hướng dẫn học sinh quan sát và nhận xét chữ - Cao 5 li, gồm 4 nét: móc ngược trái, thẳng đứng, thẳng xiên và móc ngược phải. - Cách viết: + Nét 1: Đặt bút trên đường kẻ 2, viết nét móc từ dưới lên, lượn sang phải, dừng bút ở đường kẻ 6. + Nét 2: Từ điểm dừng bút của nét 1, đổi chiều bút, viết một nét thẳng đứng xuống đường kẻ 1 (nhưng để con chữ được đẹp và mềm mại ở phần cuối ta hơi lượn sang trái một chút) + Nét 3: Từ điểm dừng bút của nét 2, đổi chiều bút, viết một nét thẳng xiên hơi lượn ở hai đầu lên đường kẻ 6. + Một học sinh đọc + Nêu ý nghĩa của cụm từ: nói đi đôi với làm. + Hỏi độ cao chữ cái là bao nhiêu. + Khoảng cách giữa các chữ là bao nhiêu. + Học sinh luyện viết chữ khó trong cụm từ: (vào bảng con, bảng lớp). + Nhận xét 4. Hướng dẫn học sinh viết vào vở tập viết (tính thực hành) - Viết một dòng chữ cỡ nhỡ (vừa) - viết từng chữ một. - Viết hai dòng chữ cỡ nhỏ - viết từng dòng một. - Viết một dòng chữ cỡ nhỡ (vừa) - viết từng chữ một. - Viết một dòng chữ cỡ nhỏ - viết cả dòng. - Viết 3 dòng cụm từ ứng dụng cỡ nhỏ - viết từng dòng. 5. Chấm, chữa bài: 5 bài (hoặc một tổ) 6. Củng cố, dặn dò: Giáo viên nhận xét tiết học. Nhắc học sinh hoàn thành nốt bài tập viết. III. Kết quả bước đầu thu được: 1. Kết quả về chất lượng: Thời gian thực nghiệm sáng kiến này chưa đầy một năm học, nhưng kết quả đạt được của học sinh lớp tôi về môn tập viết (chữ cái hoa) là đáng khả quan. Từ chỗ nhiều học sinh viết chữ hoa xấu, sai qui trình nư hồi đầu năm mới nhận thì đến nay không còn học sinh viết sai qui trình nữa, chữ hoa của các em đã rất cứng cáp và đẹp (kể cả các chữ hoa viết khó như chữ). Điểm tập viết đồng đều của các em là 8, 9 2. Kết quả về tình cảm với bộ môn: - Các em rất thích học môn học này, đến tiết tập viết là các em reo lên vui sướng. 3. Kết quả về năng lực học tập của học sinh: - Nhiều học sinh viết chữ hoa đẹp như các em: Thanh Tú, Việt Cường, Hồng ánh, Khánh Linh.... - Đặc biệt có hai em: Thanh Tú đoạt giải nhì và Việt Cường đoạt giải khuyến khích trong kỳ thi viết chữ đẹp tổ chức tại trường. Chương III: Kết luận chung I. Bài học rút ra qua thực nghiệm sáng kiến: Nói tóm lại trong quá trình dạy tập viết chữ hoa cho học sinh lớp hai, giáo viên cần hết sức coi trọng tính thực hành của học sinh. Muốn làm được điều đó giáo viên cần thực hiện: - Nắm vững chương trình. - Nắm vững đặc trưng phương pháp bộ môn C. PHỤ LỤC Tài liệu tham khảo 1. Giáo trình phương pháp dạy học Tiếng Việt 1. (Đại học Quốc gia Hà Nội - Trường đại học sư phạm) 2. Tiếng Việt 2 tập một, tập hai. (Bộ giáo dục và đào tạo) 3. Tập viết 2 tập một, tập hai. (Nhà xuất bản giáo dục) 4. Chuyên đề giáo dục tiểu học tập 6, tập 7. (Thạc sỹ Trần Mạnh Hưởng)
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_coi_trong_tinh_chat_thuc_hanh_trong_gi.docx